Bài 8 - Thế nào là Bố Thí

Thế nào là Bố Thí? Hiểu sao cho đúng tinh thần Phật Đạo?

 Viết và luận giảng bởi: Kim Cang Tấn Dũng

Ngày 21 tháng 10 năm 2017

Đã từ lâu mọi người, những ai là Phật tử theo đạo, đều được nghe hoặc được giảng ít nhiều về pháp Bố Thí trong nhà phật …

 Để hiểu đúng tinh thần nhà Phật trong mọi Văn – Tư – Tu, người đọc / người học Phật cần nắm rõ tinh thần Phật Đạo dưới đây được xem như là một Kim Chỉ Nam (một định lượng đo lường Chánh Pháp) cho mọi suy luận về nghĩa và hành sự. Điều này sẽ được áp dụng cho tất cả các bài viết Văn – Tư – Tu về sau này:

 1.     Tự lợi – Lợi Tha & Tự Giác – Giác Tha: bất cứ luận nghĩa về lý hay vận dụng về sự đều phải có lợi cho mình và có lợi cho người. Mình được giác ngộ tức là người khác cũng được giác ngộ hoặc ngược lại. Nếu vẫn chưa luận hay dụng được hai mặt này thì xem như vẫn còn chưa thông. Lý sự chưa viên dung.

 2.     Hiển – Mật Đồng Đẳng: Mọi lý luận về nghĩa hay dụng về sự đều có hai mặt của một vấn đề. Nếu nhìn được phần Hiển thì cố gắng nhìn luôn phần Mật để thấy tính Chân Thật của nó. Hay nói đúng hơn là vận dụng Bát Nhã Trí (cơ bản là Pháp Đối Trị) làm chủ đạo trong tư tưởng, như là mẹ của các Pháp mà Phật đã nói đến.

3.   Ngã Nhân Chúng Sanh Thọ Giả như huyễn: tức cả các hiện tượng đều do nhân duyên mà sanh. Nếu đã do nhân duyên sanh thị thoắt đến thoát đi, có thường có đoạn. Nhìn các hiện tượng bên ngoài để đối ứng vào bên trong và ngược lại. Hiểu được vậy thì mới thấy được Ngã Nhân như Huyễn, mới nắm bắt sâu được tính chân thật của Lý và Sự.

 4.   Hai Vô Ngã: Pháp vốn Vô Ngã, Nhân cũng vốn Vô Ngã

 

Phần 1: Thế thì hiểu như thế nào là Bố Thí?

 Trước hết chúng ta hãy đi vào mặt Hiển nghĩa của các khái niệm này:

 Bố thí là một hành động cho ra bên ngoài. Ngược với bố thí, một hành động nhận vào bên trong là tham. Theo nghĩa hiển khác, bố là khắp nơi - là rộng ra, thí là cho è bố thí là hành động cho ra ngoài càng nhiều càng tốt, ở mọi nơi, mọi thời nếu có thể.

 

Theo đó, ta có thể nói bố thí tức là cho, là tặng, là biếu, là cúng dường, là dâng trao tùy theo hoàn cảnh, đối tượng mà ngữ nghĩa khác nhau.

 Tại sao lại vậy? Vì để thực hiện bố thí, bao giờ cũng phải có đầy đủ 3 thành phần:

 -         Người cho (có thể gọi là “tác giả”)

 -         Người nhận (có thể gọi là “thọ giả”)

-         Vật cho (vật bố thí có thể là “hữu hình” hoặc “vô hình”)  

 Ở đây đang mở rộng cụm từ “tác giả - thọ giả” để phần sau khi nói về bố thí ba la mật, chúng ta sẽ nhìn vấn đề dễ dàng hơn trong từ ngữ nhà Phật.

Như vậy, rõ ràng, tùy đối tượng, tùy vật bố thí mà chúng ta dùng các từ ngữ khác nhau như là cho (đối với đối tượng ngang hàng), là tặng (đối với đối tượng phía trên), là biếu (trân trọng hơn nữa), là cúng dường (nếu liên quan đến Tam bảo) v.v….. Nói chung lại, bất cứ cái gì đưa ra ngoài, có người cho & người nhận thì đều được xem là một cách thể hiện bố thí.

 

 Tại sao bố thí lại được coi trọng trong các việc làm của nhà Phật?

 -         Như chúng ta đều biết, để đưa ra phương thuốc chữa cho 8 vạn 4 ngàn loại bệnh tâm, cách vẫn hay dùng là phương pháp đối trị. Chữa tâm bệnh nào thì hãy dùng đối trị mà chữa. Trong Tam Độc, Tham-Sân-Si thì để diệt cái tham, thay vì chúng ta lấy vào thì giờ chúng ta hãy cho ra và đơn giản là thực hiện pháp Bố Thí để không còn tâm tham.

 -         Ngoài ra, khi đi vào Lục độ ba la mật, thì việc đầu tiên cần làm là Bố thí ba la mật. Và việc làm đầu tiên này sẽ là nhân để tiếp cận việc làm kế tiếp Trì giới ba la mật …. Cứ thể nhân này quả kia cho đến khi tạo thành 1 vòng tuần hoàn trở lại thì sẽ tạo thành 1 bánh xe chuyển pháp luân.

 -         Kế nữa, bố thí được coi trọng vì đây là một việc làm có thể thực hiện bất cứ thời nào không cần điều kiện dành cho người tu hành nên rất dễ hành.

 

Vậy bố thí có bao nhiêu loại?

 Nếu nhìn theo vật được bố thí, thì chúng ta có 3 loại là:

 

1.     Tài Thí:

 + Là việc cho ra ngoài những gì liên quan đến tài sản của mình cho người khác có mong cầu hoặc không có mong cầu. Việc làm này mục đích là thể hiện tâm bố thí là chính và mục đích là giảm bớt hoặc không còn tâm tham mà thôi. Không hề có sự thương hại hoặc tự cao trong việc làm này, vì nếu không, chúng ta sẽ được rất ít quả phước bố thí mà tôi sẽ phân tích sâu trong phần 2 khi chúng ta đi vào mật nghĩa bố thí ba la mật.

 + Riêng tài thí, chúng ta có 2 loại:

-         Ngoại tài: cho đi các tài sản nằm ngoài thân của mình cho người thọ nhận/ nơi thọ nhận. Đó có thể là tiền bạc, là thức ăn uống, là quần áo, là của cải khác v.v….

-         Nội tài: cho đi các tài sản gắn liền trên thân của mình cho người thọ nhận hoặc nơi thọ nhận. Đó có thể là hiến dâng nội tạng cho ai hoặc cho một nơi nào đó cần (bệnh viện, trung tâm ….). Trước kia rất nhiều đệ tử chư Phật hoặc nhiều đời trước khi thành Phật, họ đã từng hành pháp tài thí bằng chính nội tài của mình.

 

2.     Pháp Thí

 + Tùy theo từng tâm mong cầu, mà chúng ta dùng các chân lý nhà phật, các tri kiến Phật, các pháp Ứng-Dẫn-Dụ-Diệt, các bài pháp duyên mà đem pháp phật đến với chúng tình có mong cầu để mong làm lợi lạc cho chúng sanh trong 3 cõi 6 loài.

 + Ai cũng đều thừa biết, Pháp thí bao giờ cũng có quả phước lớn hơn so với tài thí. Đúng là như vậy, nhưng nói vậy là chúng ta vẫn còn nhìn vào mặt hiển mà nói thôi. Thật sự, muốn có quả phước lớn, cho dù là thực hiện tài thí hay pháp thí, điều quan trọng vẫn là phải có Nguyện và Hồi Hướng. Lại nữa, tôi sẽ nói sâu phần này trong phần 2 khi đi vào mật nghĩa của Bố Thí.

 + Riêng pháp thí, chúng ta có 3 loại:

 -         Pháp thí hý luận (khinh người): cũng là cách nói pháp làm lợi cho chúng sanh ba cõi sáu loài, nhưng cách thể hiện pháp thí đối với người thọ nhận là họ u mê, họ ngu dốt, họ thấp nên dẫn đến sự khinh miệt khi nói pháp, coi thường người thọ nhận pháp thí. Hoặc có khi người thọ nhận đóng góp, chia sẻ thì người hành pháp thí hý luận này họ chấp nghe, chấp thấy, dẫn đến nói pháp 1 chiều hoặc nếu có 2 chiều thì đều không làm lợi chúng sanh mà thực tế chỉ là hý luận. Pháp thí hý luận chỉ dẫn đến cuồng ngông mà không hề có một quả phước bố thí tư lương nào cả. Và đều này là hoàn toàn trái với ý của các chư phật mong cầu.

 -         Pháp thí thể hiện (cầu danh): là việc thực hiện nói pháp nhưng mục đích là muốn chứng minh sở học, sở cầu, sở đắc của mình cho người thọ nhận pháp thí biết những gì mình đang chứng đắc, đang ngộ nhưng thực sự tâm mong cầu của người thọ nhận pháp thí không có, hoặc nhân duyên mong cầu pháp này lại được nhận pháp khác dẫn đến cuối cùng là cũng không có lợi ích gì cho người thọ nhận. Và điều đó cũng không hề làm lợi lạc gì cho chúng sanh. Chỉ có khác với pháp thí hý luận là họ không có sự miệt thị, coi thường người thọ pháp nhưng pháp thí của họ không có khế hợp với nhân duyên mong cầu mà thôi.

 -         Pháp thí theo mong cầu (pháp duyên thí): đây mới thực sự là pháp thí có hữu ích – làm lợi cho chúng sanh và sẽ có được phước đức tư lương từ nhân bố thí pháp này. Khi chúng sanh có thật sự mong cầu nghe pháp, thì ta dùng pháp thí cho tâm mong cầu ấy. Và pháp thí này khác với pháp thí thể hiện là họ tôn trọng nhân duyên pháp thí, và họ nói đúng pháp theo tâm mong cầu chỉ mong làm sao lợi lạc nhất cho ngượi thọ nhận pháp. Bất kể pháp thí ấy có cao hay thấp, có nông hay cạn, có thô sơ hay vi tế è miễn làm lợi lạc cho chúng sanh thì nói pháp thí ấy. Người làm pháp thí này không cần phô diễn cái sở học, cái sở đắc, cái sở chứng cho người thọ nhận pháp. Đấy mới là pháp duyên thí mà nhà phật cần người nói pháp làm lợi cho người thọ nhận pháp.

 

3.     Vô úy thí

 +  Là cách bố thí không còn sợ hãi, không còn khủng bố tinh thần. Giúp người thọ nhận an lành, cảm giác an lạc, không còn bị khiếp sợ trong tâm trí. Những hành động an ủi, chia sẻ, cảm thông, vỗ về, lắng nghe v.v. …là đều đang hành vô úy thí giúp người thọ nhận giảm bớt sự căng thẳng, sự mất an lành trong đời sống.

 Bởi chính vì thế mà phẩn đầu tôi nói pháp bố thí là dễ hành nhất và được chư Phật coi trọng là thế.

  

Nếu nhìn theo cách bố thí, thì chúng ta cũng có 3 loại:

 

1.     Bố thí có tướng (bố thí theo chúng sanh):

 + Đó là việc thực hiện bố thí này, chúng ta có thấy rõ có người cho (tác giả) và người nhận (thọ giả). Đương nhiên việc bố thí này sẽ tạo nhất định một phước đức tư lương nào đó cho quả bố thí này nhưng lại được xem là cách bố thí theo chúng sanh.

 + Vì sao?

 Vì họ cũng thực hiện bố thí nhưng khi họ làm việc này là do họ thấy có người cần, thấy có cho từ trên đưa xuống, thấy có cho từ chỗ cao xuống chỗ thấp, thấy có cho từ chỗ giàu đến chỗ nghèo, thấy có cho từ chỗ dư giả xuống chỗ thiếu hụt. Và như vậy, khi thực hành bố thí này chúng ta vẫn còn chấp cái tướng cho và cái tướng nhận trong khi đó ngay từ định nghĩa bố thí đã nói rõ việc làm bố thí chủ yếu là việc làm để thiện hiện tâm bố thí mà cuối cùng là để làm giảm tâm tham hoặc không còn tâm tham. Như vậy, đối với bố thí chúng sanh, chúng ta vẫn còn nhìn thấy sự phân biệt của việc làm, vẫn còn chấp tướng trong việc làm và như vậy thì phước đức tư lương vẫn sẽ có nhưng đó là phước hữu lậu.

 

2.     Bố thí vô tướng (bố thí theo chư bồ tát):

 + Đó là việc thực hiện bố thí này, chúng ta không còn có sự phân biệt giữa thọ giả hay tác giả nữa. Việc hành pháp bố thí này dựa trên tính bình đẳng mà hành. Nghĩa là, khi chúng ta hành bố thí, không phân biệt giàu-nghèo, sang-hèn, thấp-cao, dư-thiếu mà họ chỉ tập trung làm sao thể hiện tâm thông qua hành động bố thí mà thôi.

 + Trong kinh Kim Cang cũng nói rõ như thế:

 “Lại nữa, Tu-bồ-đề! Bồ Tát theo đúng pháp, nên lấy tâm không chỗ trụ mà làm việc bố thí. Nghĩa là chẳng nên trụ nơi hình sắc mà bố thí, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, cảm xúc, pháp tướng mà bố thí.

 “Tu-bồ-đề! Bồ Tát nên bố thí như vậy đó, không trụ nơi tướng.

“Vì sao vậy? Nếu Bồ Tát bố thí với tâm không trụ tướng, phước đức ấy chẳng thể suy lường.

 "Vì thế, Phật dạy các vị Bồ Tát chẳng nên trụ tâm nơi hình sắc mà bố thí. Tu-bồ-đề! Bồ Tát vì lợi ích cho tất cả chúng sanh nên bố thí như vậy.

 + Ví dụ:

Khi hành tài thí, đã cho gạo để hành pháp bố thì này thì cả người nghèo cũng cho mà người giàu cũng cho, cả người ngoài cũng cho mà người trong nhà cũng cho v.v…

 Bằng cách nào để làm được như thế? Giả sử muốn bố thí gạo, thì hôm nay để gạo nơi đây, bất cứ ai có nhân duyên đến đây đều được nhận gạo như nhau, không phân biệt là ai, miễn là có đủ nhân duyên ngay thời điểm phát tâm bố thí gạo thì họ đều được nhận hết.

 Một ví dụ khác ta thường thấy rất rõ ràng, một ai đó mở quán cơm 2.000đ/dĩa, thì một khi đã đưa bảng lên thì bất cứ ai vào ăn đều như nhau cho dù là ai vào ăn đi chăng nữa thì được xem là bố thí theo bồ tát vì khi đó họ không còn chấp tướng thọ nhận bố thí nữa mà mục đích là chỉ thể hiện tâm bố thí. Nhưng nếu họ chỉ cho người nghèo vào ăn thì vẫn xem là bố thí chúng sanh vì họ vẫn còn phân biệt việc làm, vần còn chấp tướng thọ nhận. Đơn giản là vậy.

 

3.     Bố thí balamat (bố thí theo chư Phật)

 + Vậy thì bố thí balamat hay còn gọi là bố thí theo chư phật khác 2 cái trên như thế nào?

 Đầu tiên là bố thí balamat thì hoàn toàn không có phân biệt, không có chấp tướng giống như bố thí của bồ tát vậy. Điểm khác biệt duy nhất ở chỗ là việc làm của bố thí balamat, ngoài việc chỉ thể hiện tâm, họ còn có nguyện và hồi hướng. Tức là họ không hề dùng phước đức bố thí cho họ mà họ làm chỉ vì nguyện và hồi hướng mà làm. Do vậy, không những họ không chấp tướng, không phân biệt mà thậm chí đến cái quả bố thí cũng không nhận mà sẵn sàng hồi hướng quả ấy đến người khác thì sao mà không thể gọi là bố thí theo chư phật?

 Tôi sẽ dành phần này đến đây để diễn giải sâu hơn trong phần 2 cho hiểu thâm sâu và mật nghĩa hơn.

 

Phần 2: Bố Thí hiểu theo tinh thần nhà Phật, tinh thần cầu Vô Thượng Đạo, tinh thần Mật nghĩa và Vi tế?

 Như chúng ta đã nói rất nhiều ở trên về mặt Hiển nghĩa (hiểu sơ tế) của bố thí, giờ chúng ta cùng tìm hiểu sâu về mặt Mật nghĩa (hiểu vi tế) của bố thí ba la mật – bố thí theo tinh thần của các chư Phật.

 

Trước hết chúng ta cần phải hiểu nghĩa: thế nào là balamat?

 Balamat – ba la mật – tiếng Phạn nghĩa là pāramitā: tạm dịch là “giải thoát” theo nghĩa đen vậy. Chúng ta có thể xem balamat là vượt qua đáo bỉ ngạn để đến bờ bên kia là niết bàn hoặc giải thoát, đó là nơi cứu cánh, đích đến của vô cực v.v….Tôi sẽ có 1 bài viết riêng về balamat, ở đây chúng ta chỉ đơn thuần hiểu balamat là làm sao thật sự giải thoát (ở trong TÂM) của mình đó, giải thoát đến 1 chút trói buộc, 1 chút sở đắc, 1 chút sở trụ cũng không còn. Khi đạt đến giải thoát thật sự ấy, chúng ta tạm gọi là đang đi và hành balamat vậy. Balamat chính là hạnh của các bồ tát hành, đi vào để hướng đến quả chánh đẳng chánh giác trong tương lai. Tôi chỉ nói đến “giải thoát” thôi nhé, chứ chưa hề nói đến “giác ngộ” nhé. Vì đã giác ngộ hoàn toàn thì đã được xem là Phật hay gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác rồi.

 Do vậy, tôi nói rõ bên trên là: khi chúng ta hành balamat, đặc biệt là hành “bố thí balamat” theo tinh thần của bài viết này thì chỉ được xem là bố thí theo tinh thần của các chư Phật mà thôi nhé.

 Như phần trình bày ở trên, để đi sâu vào việc làm của bố thí balamat thì chúng ta cần phải có điều kiện “cần” là: phải có nguyện & hồi hướng.

 Vậy thì nguyện là gì?

 Nguyện nôm na có thể xem đại loại là 1 mong cầu lớn hoặc nhỏ cũng được nhưng không dành cho mình, hoặc có thể xem là 1 loại lý tưởng, 1 loại việc làm vì lợi ích của chung hoặc của ai đó, mà không có mình hoặc nếu có mình thì mình chỉ là 1 phần nhỏ trong việc làm đó thôi. Thông thường thì gọi là nguyện, rộng hơn thì xem là nguyện hạnh (ước nguyện xây dựng đạo hạnh).

  Vậy thì hồi hướng là gì?

 Hồi là phản hổi, là trả về. Hướng là hướng đến, là đưa về. Hồi hướng là đưa cái gì đó (ở đây có thể xem là quả phước báu của bố thí) về 1 nơi nào đó hoặc ai đó mà có thể hoặc không thể thuộc về mình. Hồi hướng là một việc làm rất được coi trọng vô cùng trong nhà Phật hay thậm chí được xem là hàng đầu. Vì sao vậy? Vì hồi hướng thể hiện rất rõ được cái tính vô ngã, vô tướng, vô nguyện của việc làm. Chúng ta có được, rồi lại ban lại người khác è do đó cái có nhưng lại không có, nhưng thật sự vẫn là có. Đây chính là tinh thần của bát nhã balamat, và nhờ tinh thần mà “có” đấy nhưng “không” thuộc về mình nên gọi là “không” mà vì “không có” nên vô sở trụ và đắc, mà vì “vô sở trụ và đắc” nên mới hướng đến tinh thần “giải thoát” đến một chút dư sót cũng không còn, mà được vậy thì sao không thể gọi là “balamat” !!!!!!.

 Rồi, chúng ta đã hiểu rõ điều kiện cần là “nguyện & hồi hướng”, kế tiếp điều kiện cần là gì? Điều kiện cần là chúng ta phải hành bố thí theo tinh thần balamat

 Chúng ta đều lầm lẫn cho rằng mình Bố thí Ba La Mật nhưng thực sự thì không phải vậy. Vậy phải làm sao để được xem là balamat đây?

 Trong kinh Kim cang nói rằng:

 Bố thí mà không phải bố thí thì mới thực là bố thí, hoặc bố thí mà không chấp nhân, ngã, chúng sinh, thọ giả mới thực là bố thí, hoặc bố thí mà không thấy ta là người cho, đây là vật được cho, và kia là người nhận mới là bố thí v...v...

 Vậy hiểu sao đây? Quả là vô cùng phức tạp. Nhưng không, nhờ có “nguyện và hồi hướng” khi chúng ta thực hành bố thí theo tinh thần bồ tát + nguyện + hồi hướng thì việc làm bố thí đó đúng thực là “bố thí mà không phải bố thí thì mới thực là bố thí”

 Vì sao lại như thế?

 Như chúng ta thấy, khi chúng ta hành bố thí theo bồ tát, chúng ta đã hoàn toàn không còn chấp đến sắc, đến danh & tướng, chỉ mang tâm mong cầu lợi lạc cho chúng sanh. Nhưng quả bố thí đó vẫn có vô lượng phước, vô lượng công đức thì vẫn còn chấp quả. Nhờ hành động hồi hướng đó mà quả chúng ta có cũng không thật sự có vì đã hồi hướng về nơi khác (cũng có thể có mình trong đó). Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ làm hồi hướng mà không có nguyện thì chúng ta lại chấp nhân, vì vẫn còn tâm mong cầu làm lợi lạc cho chúng sanh theo tinh thần của bồ tát. Do vậy, thông qua nguyện, chúng ta làm việc bố thí cũng không hề bị trói ở nhân. Vì sao vậy? vì việc làm đó là vì lý tưởng, vì mục đích chung nào đó như tôi đã nói định nghĩa nguyện bên trên, mà làm vì 1 lý tưởng thì làm gì còn cái ngã trong đó, làm gì còn cái nhân cho việc làm đó.

 Cuối cùng thì sao? Chúng ta thật sự có làm hành động bố thí mà nó không phải là bố thí (vì có thấy ai cho ai nhận đâu? Tôi cho là vì nguyện, còn người nhận là do hồi hướng mà nhận mà thậm chí cũng không biết là mình được hồi hướng nữa) thì nhà phật xem đó mới thật sự là việc làm bố thí. Và được xem là bố thì balamat. Phật là người có đủ vô lượng phước, ngài chỉ có cho đi chứ nhận thêm chi. Do vậy, khi chúng ta làm động tác hồi hướng quả phước thì chúng ta cũng tương tự hành động chia sẽ phước báu nên mới gọi là bố thí theo tinh thần nhà Phật là vậy. Bố thí balamat hướng giải thoát là vậy.

 

Quay trở lại ví dụ bố thí bằng cách mở tiệm cơm 2.000đ. Chúng tá sẽ thấy sự khác nhau ở 3 cấp độ như sau:

 + Đối với bố thí chúng sanh: chúng ta mở tiệm cơm 2.000đ nhưng mục đích chỉ dành cho người nghèo nên chúng ta vẫn còn sự phân biệt tướng, phân biệt việc làm, vẫn còn chấp nhân, chấp quả, vẫn còn thấy cao ban xuống thấp v.v….nên mới gọi đó là bố thí theo chúng sanh và đương nhiên quả phước bố thí này là phưới hữu lượng, phước tư lương mà thôi.

 + Đối với bố thí bồ tát: chúng ta cũng mở tiệm cơm 2.000đ nhưng chúng ta không phân biệt ai cả, bất cứ ai giàu nghèo không qua tâm, hễ ai có nhân duyên hoặc mong cầu đến ăn cơm 2.000đ đều được cả. Mục đích chính vẫn là thể hiện tâm bố thí là chính. Ở việc làm này, chúng ta đã lên 1 bậc vì đã không còn chấp tướng ở việc làm, không còn phân biệt, không có chấp ngã, chấp danh và chấp sắc nên đã được xem là việc làm như các bồ tát. Mục đích là thể hiện tâm và làm lợi tất cả cho chúng sanh và đương nhiên, phước đức là vô lượng phước nhưng vẫn là phước hữu lậu vì chúng ta vẫn còn quả phước đó.

 + Đối với bố thí balamat: đầu tiên chúng ta nghĩ đến việc mở quán cơm 2.000đ là vì 1 một lời nguyện nào đó mà hành (ví dụ: mẹ bị bệnh và chúng ta phát nguyện sẽ mở tiệm cơm 2.000đ để hành hạnh bố thí và cầu cho mẹ hết bệnh). Với nguyện này, họ mở tiệm cơm để hành hạnh bố thí nhưng nhân mở quán cơm không phải vì họ, mà là vì mẹ họ, vì nguyện mong cầu è do đó họ không hề con chấp nhân hay bản thân ngã của việc cho bố thí không hề có là vậy. Khi họ mở quán cơm 2.000đ, họ hành hạnh bố thí hoàn toàn như bồ tát trong thể hiện tâm, không hề có sự phân biệt tướng trong việc làm. Vậy rõ ràng họ đã làm bố thì mà không hề chấp ngã, chấp vật bố thí, chấp tướng thọ nhận bố thí v.v…. Rồi, khi họ có quả phước bố thì này, họ lập tức làm việc kế tiếp là hồi hướng về cho mẹ mình và mong mẹ mình hết bệnh. Vậy thì chấp quả cũng không còn, thậm chí phước tư lương cũng không nhận mà hồi hướng cho mẹ mình thì hỏi thử: có phải làm bố thí mà không có bố thí thì gọi là bố thí balamat như trong kinh Kim Cang viết không?

 Đến đây chúng ta đã hiểu rõ thế nào là bố thí vi tế theo mật ý balamat rồi. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ vấn đế thì đối với bố thí balamat kể trên, tôi chỉ có thể gọi là bố thí balamat đại thừa, còn bố thí balamat tối thượng thừa lại phải vi tế thêm một bậc nữa.

Vì sao tôi nói thế? Vì qua ví dụ việc làm bố thí balamat trên, thật sự chúng ta vẫn còn chấp ngã nhưng cái chấp ấy rất là vi tế khó nhận biết. Đó là hình ảnh dùng “mẹ mình” để làm nguyện và hồi hướng cho việc làm bố thí nên vẫn còn 1 chút ngã trong đó mặc dù có vi tế.

 Để đi vào balamat tối thượng thừa, thậm chí cái nguyện & cái việc làm hồi hướng cũng phải hướng đến Tam Bảo thì mới được xem là balamat tối thượng thừa của việc làm bố thí đó.

 

 Ví dụ rất đơn giản:

 -         Thay vì chúng ta nguyện cho mẹ hết bệnh mà làm bố thí mở tiệm cơm 2.000đ, chúng ta hãy nguyện vì bất cứ chúng sanh nào có bệnh giống mẹ mình và khi hồi hướng thì chúng ta hồi hướng cho bất cứ chúng sanh nào có bệnh giống mẹ mình. Làm như vậy thì hoàn toàn 1 chút ngã vi tế cũng không còn vì mẹ mình cũng là chúng sanh và mẹ mình là 1 phần trong chúng sanh đó.

 -         Hoặc chúng ta có thể có những nguyện khác hướng về Tam Bảo mà hành hạnh bố thí và hồi hướng việc làm bố thí về nguyện đó cho được viên mãn. Một số nguyện liên quan đến Tam bảo có thể kể đến là:

 o   Nguyện cho chúng sanh tiếp cận Tri kiến phật

o   Nguyện cho chúng sanh bớt tham sân si

 o   Nguyện cho chúng sanh phát tâm bồ đề

 o   Nguyện cho gia đạo hạnh thông để phát tâm từ bi hỷ xả

 o   Nguyện chúng sanh được giải thoát

 o   V.v…..

 Và sau đó chúng ta hành Hạnh Bố Thí theo kể trên thì đều được xem là Bố Thí Balamat tối thượng thừa.

  

Phần 3: làm thế nào để hiểu và diệu dụng pháp Bố Thí theo cả tinh thần Hiển nghĩa và Mật nghĩa như trên trong đời sống?

 Chúng ta đã đi qua cả tinh thần Hiển nghĩa và Mật nghĩa của việc làm bố thí và chúng ta cũng rõ ràng phân biệt được 3 cấp bậc của việc làm bố thí nếu tính theo tướng làm.

 Vậy thì cuộc sống, việc vận dụng theo đó quá đơn giản cho các bạn vì rõ ràng các bạn có thể hành hạnh bố thí theo như trên nói ở: mọi lúc, mọi nơi, mọi thời, mọi hoàn cảnh tùy theo tâm bố thí của chúng ta mà làm. Thậm chí việc làm Vô uy thí là vô cùng đơn giản cho các bạn hành mọi lúc.

 Lại nữa, tùy điều kiện và hoàn cảnh, các bàn hoàn toàn có thể hành Tài thí, Pháp Thí hoặc Vô úy thí nhưng ráng gìn giữ tâm không nên chấp tướng và chấp việc làm nhé.

 Nhất là Pháp thí thì chỉ duy nhất Pháp duyên thí là có phước thôi nhé. Không nên hành Pháp thí cầu danh hay pháp thí hý luận nhé.

 Về tài thí, các bạn đừng nghĩ chỉ là tiền bạc nhé, bất cứ tài sản gì cũng được miễn là tâm bố thí được thể hiện mới là cái đáng quí nhất trong việc làm hạnh bố thí này nhé.

 Đó là các vận dụng vào cuộc sống qua việc hiểu rõ bố thí là gì. Mong người đọc khi tiếp cận bài viết sẽ có cái nhìn thấu đáo hơn về việc làm và ý nghĩa mà hành cho khế cơ khế lý mà có quả phước báu lớn dành cho mình và người.

  Như mọi khi, bài viết có sức giới hạn ngữ nghĩa của nó. Do vậy, xin đừng bận chấp mà chê bai mà vui lòng đón nhận đóng góp. Âu mọi thứ cũng là nhân duyên mà c

 

 

Trực tuyến

Trang web hiện có:
7 khách & 0 thành viên trực tuyến

Mới nhất