Bài 6 - Thế nào là Hộ Ma

Thế nào là Hộ Ma? Hiểu sao cho đúng tinh thần Phật Đạo?

 Viết và luận giảng bởi: Kim Cang Tấn Dũng

 Ngày 13 tháng 10 năm 2017

 Khái niệm này ít được biết đến và rất ít việc làm liên quan đến Hộ Ma. Tuy nhiên, những ai đã và đang đi theo dòng Mật Thừa sẽ cần nên hiểu rõ ý nghĩa và việc làm của Hộ Ma mà diệu dụng

 

 Phần 1: Thế thì hiểu như thế nào là Hộ Ma?

 PHÉP HỘ MA - HO  MA  (): Hộ ma, Trung Hoa dịch là hỏa thiêu, hỏa tế để chỉ cho cảnh lửa cháy lẫy lừng hay sự cúng tế bằng lửa. Hộ ma còn có nghĩa là thiêu ám để chỉ cho lửa trí tuệ thiêu đốt nghiệp.

 Về phép hộ ma, trong Du-già hộ ma nghi quỹ nói: “Tức tai Kiết Phật ấn. Tăng ích cờ xí báu. Hàng phục Kim Cang nộ. Câu triệu Kim Cang câu. Thỉnh mời liền ứng nhau. Kính ái liên hoa bộ. Năm Du-già như thế nên làm phép Hộ ma”.

Thâm-ý: là 37 vị Tôn-Phật Trí-hỏa như thiêu như đốt muôn vạn nghiệp-chướng, cấu-chướng, oán-trái, u-mê, ám-muội, tối-trí, phiền-não, vô-minh ..., tốc-chứng bậc  chánh-đẳng  chánh-giác. Pháp-Tánh  Đại-Nhật  chi thân.

Trung-Hoa  dịch là HA MA ( ), Tam-muội, HO  MA () là bản-thể.

Tên  Phạn  gọi    QUÂN-TRÀ,  đồng  nghĩa  với  sự  thiêu-đốt , đồng-nghĩa  sự  tịch-trừ báo-nghiệp ác-nghiệp vô-minh. 

Kinh Đại-Nhật nói: Hàng-Tam-Thế  là chữ   HA (), Tịch-trừ  chướng-nghiệp ba đời, cũng tịch trừ tam độc phiền não chướng ba-đời cho tam giới

Như vậy, Phép Hộ Ma là một phương tiện trong tu hành dùng để xóa sạch các chướng nghiệp, oan gia oán trái để được tiêu trừ dần các phiền não mà tiếp cận đến tánh giác và đạt được một số tất địa trong tu hành.

  

Phần 2: Có bao nhiêu loại Hộ Ma?

 Hộ ma của Mật giáo được chia làm 2 loại: Ngoại Hộ ma và Nội Hộ ma.

 -Ngoại Hộ Ma là dùng phép hỏa tế cúng dường tất cả thân phổ môn để tăng ích thế lực không thể nghĩ bàn của mật chú và khiến cho chân ngôn mau được thành tựu. Ngoại hộ ma chủ yếu tịch trừ các thành phần tác động từ bên ngoài hoặc làm lợi ích cho các thành phần bên ngoài để hộ người tu hành hoặc được viên mãn nguyện nơi hiến cùng phép Ngoại hộ ma.

 Đối với hành giả mật tông, Ngoại Hộ ma: Tu ở trong đàn Hộ ma, phải có đủ 3 thứ: Tượng Bản tôn, lư hương, hành giả, tượng trưng cho Tam mật (thân, khẩu, ý) của hành giả. Trong đó, tượng Bản tôn tượng trưng cho Ý mật, không hạn cuộc ở bất cứ đức Như lai nào hay vị Minh vương nào, chỉ tùy theo pháp tu mà quyết định; lư hương tượng trưng Khẩu mật, còn tự thân của hành giả thì tượng trưng cho Thân mật.

Về phương thức thực hành thì trước hết là chọn đất, làm đàn, đặt lư hương, tụng chân ngôn, rồi bỏ các vật cúng như nhũ mộc, ngũ cốc, v.v... vào trong lư hương để thanh tịnh hóa Tam mật của hành giả hầu thành tựu các pháp Tức tai, Tăng ích, Hàng phục, v.v... Vì thực hành pháp này đều là những việc ở ngoài tâm, cho nên gọi là Ngoại hộ ma, Sự hộ ma.

 

-Nội Hộ Ma là dùng lửa trí tuệ đốt sạch cỏ rác phiền não bên trong, cần phải lấy Bồ-đề tâm làm động lực căn bản. Trong Kiến lập Hộ ma nghi quỹ có nói: “Vì nghiệp chướng che lấp, quán nơi môn chữ A, dùng trí tuệ mãnh liệt, tưởng chung quanh thành lửa, như kiếp hỏa lẫy lừng, thiêu đốt nghiệp phiền não, và củi gỗ vô minh, không còn sót vật chi, tuôn chảy bạch cam lồ, tươi mát mười phương cõi, những nhiệt não chúng sanh, giúp lớn mầm Bồ-đề, thứ lớp sanh các chữ, đây chính là pháp thân, bí mật nội hộ ma”.

 

Nội Hộ ma thông thường có 5 pháp:

 1. Pháp tức tai: Quán tưởng bản tính đức Đại nhật Như lai.

 2. Pháp tăng ích: Quán tưởng bản tính đức Bất không thành tựu Như lai.

 3. Pháp kính ái: Quán tưởng Bản tính đức Vô lượng thọ Như lai.

 4. Pháp câu triệu: Quán tưởng bản tính đức Bảo sinh Như lai.

 5. Pháp điều phục: Quán tưởng bản tính đức A súc Như lai.

 Năm pháp này tương ứng với nội chứng của 5 trí thuộc 5 bộ Kim cương giới. Nói về công đức của 5 pháp này thì mỗi pháp đều có hiệu quả của 4 pháp kia, gọi là Ngũ pháp hỗ cụ. Chẳng hạn như khi tu pháp Tức tai thì dứt được phiền não tham, sân hoặc tiêu trừ tai nạn, đó là ý nghĩa Tức tai. Khi đã dứt trừ phiền não tham, sân thì tăng trưởng được công đức giới, định, tuệ và các thứ phúc đức khác, đó là ý nghĩa Tăng ích. Khi công đức đã được tăng trưởng, thì dần dần phá vỡ vô minh, diệt trừ các tai ách, đó là ý nghĩa Điều (hàng) phục. Nhờ các công đức ấy mà được chư Phật, Bồ tát hộ trì, đó là ý nghĩa Kính ái. Nhờ những công đức nói trên mà các điều thiện sinh khởi, muôn pháp hiển hiện, đó là ý nghĩa Câu triệu. Ngoài ra, 5 loại pháp nói trên, nều thêm pháp Diên thọ (pháp này sinh ra từ pháp Tăng ích) thì chúng ta có thể có 6 pháp.

 

Ngoài ra, củi đốt trong pháp Hộ ma, gọi là Hộ ma mộc, tro tàn gọi là Hỏa thực hôi, dao chặt củi gọi là Hộ ma đao. Tờ giấy hoặc thẻ gỗ viết chép mang nội dung cầu nguyện và chỉ thú của pháp Hộ ma, có thể dùng làm bùa hộ mạng, gọi là Hộ ma trát; phòng xá trong đó pháp Hộ ma được cử hành, gọi là Hộ ma đường.

Thật sự pháp ngoại hộ ma chỉ có tác dụng diệt tội sanh phước trong sanh tử giới vì thế mà người tu hành không thể thành tựu tất địa thông qua pháp ngoại hộ ma này. Còn pháp Nội hộ ma thì có công năng dứt trừ phiền não khiến cho siêu thoát luân hồi và hành giả tu hành có thể đạt được một số tất địa nhất định nếu mật trì đúng cách.

 

Nếu bậc chơn ngôn hành giả chỉ làm phép ngoại hộ ma theo thế để mà không hiểu ý nghĩa về nội hộ ma thì cũng đồng với hạng người thờ cúng lửa mà thôi.

 

Nếu phân biệt theo tính tương đối thế gian và xuất thế gian, thì pháp Hộ ma của xuất thế gian là Nội hộ ma, còn pháp Hộ ma của thế gian là Ngoại hộ ma. Tuy nhiên, trong pháp Hộ ma xuất thế gian cũng có nội ngoại khác nhau, tức lấy Quán tâm làm nội và lấy Sự tướng làm ngoại. Còn pháp Ngoại hộ ma, vì chưa tương ứng với nội quán, không thành tựu Tất địa, cho nên khi thực hành Ngoại hộ ma thì phải đồng thời tu quán Tam bình đẳng của Nội hộ ma, để mong nội ngoại tương ứng, lí sự dung hợp, mau thành tựu Tất địa; đó là nghĩa chân thực Ngoại hộ ma tức Nội hộ ma. Đây không những chỉ là chỗ khác biệt giữa Ngoại hộ ma của Mật giáo và Ngoại hộ ma của các giáo phái khác, mà còn là một yếu quyết của hành giả Mật giáo khi tu pháp Hộ ma.

  

Phần 3: Hộ Ma nên diệu dụng ra sao?

Khi chúng ta đã hiểu rõ được công dụng rõ ràng của Hộ ma là gì? Ngoại hộ ma khác Nội hộ ma ra sao? Thì việc ứng dụng và hành trì trong đời sống tu hành khá là rõ ràng.

 

Đối với vòng sanh tử, chúng ta (kể cả người tu lẫn người chưa tu) có thể thực hiện Pháp Ngoại hộ ma trong cuộc sống thường nhật. Đơn giản là mỗi nghi thức cúng kiến theo mong cầu nào đó trong cuộc sống (Cúng giỗ, cúng thí thực, cúng vong linh, cúng cầu an, cầu tài v.v….), chúng ta nên sử dụng giấy tiền vàng bạc hoặc các phép phật để hỏa hiến cùng theo nghi quĩ Ngoại hộ ma cho tất cà các chư vị (bằng cách tác pháp ra bên ngoài) nhằm lợi lạc cho họ để:

 -         Viên mãn nguyện nơi cầu hiến cúng

 -         Làm lợi ích cho thành phần được hiến cúng theo mong cầu

 -         Giảm tịch trừ tội nghiệp và tăng phước đức tư lương cho người hiến cúng

 -         Tâm càng thành, lợi ích càng lớn, linh nghiệm càng tăng

Tuy nhiên, khi hướng về giải thoát trong vòng luân hồi, người tu hành, đặc biệt là hành giả càng nên mật trì một cách niêm mật Pháp Nội hộ ma nhằm đẩy nhanh tiến trình tiêu trừ, xóa sạch những chủng tử tạp nhiễm, những dư sót còn lại nơi bản ngã mà để đi nhanh và tiếp cận thằng và tánh giác. Không thể làm sạch bên ngoài mà quên đi bên trong thí có thể tiếp cận được con đường giải thoát khỏi luân hồi được.

 

Vây thì để mật trì được pháp Nội hộ ma, chúng ta kêu gọi các chư Phật giúp đỡ thông qua 37 vị Tôn Phật nhằm làm sạch 37 chi phần trên cơ thể chúng ta.

 Qua đây, tôi cũng xin hiến dâng cho những ai có nhân duyên đến với Phật pháp các câu Chân ngôn của 37 vị để có thể hành trì và viên mãn nguyện (nếu có mong cầu)

 

1./ NA-MÔ  ĐẠI-NHẬT TÔN-PHẬT:( QUÁN -THÂN  : THÀNH  CHỦNG-TỬ   OM)

ÒM   VAJRA   DHÀTO   AGNI   VÀM

2./ NA-MÔ   A-SÚC   TÔN-PHẬT: ( QUÁN -THÂN  : THÀNH   CHỦNG-TỬ    HUM)

ÒM   VAJRA   AKSO    BHYA   AGNI   HUM

3./ NA-MÔ   BỬU-SANH   TÔN-PHẬT: (QUÁN -THÂN  : THÀNH   CHỦNG-TỬ   AH)

ÒM    VAJRA    RATNA    SAMBHAVÀ    AGNI    TRAH

4. /NA-MÔ   VÔ-LƯỢNG-THỌ  TÔN-PHẬT:  (QUÁN -THÂN : THÀNH  CHỦNG-TỬ   E)

ÒM    VAJRA    LOKE    ’SVARA    RÀJA    AGNI   HRÌH.

5./ NA-MÔ  BẤT-KHÔNG  THÀNH-TỰU TÔN-PHẬT:(QUÁN -THÂN : THÀNH  CHỦNG-TỬ CA)

ÒM   VAJRA  AMOGHA   SIDDHE  AGNI   AH

6./ NA-MÔ  KIM-CANG BA-LA-MẬT  TÔN-PHẬT:( QUÁN -THÂN: THÀNH   CHỦNG-TỬ  HUM)

ÒM    SATVA    VAJRI   AGNI    HUM 

7./ NA-MÔ  KIM-CANG  BỬU  BA-LA-MẬT  TÔN-PHẬT:(QUÁN-THÂN : CHỦNG-TỬ  TRÀH)

ÒM    RATNA   VAJRI    AGNI    TRAH

8./ NA-MÔ  KIM-CANG  PHÁP BA-LA-MẬT  TÔN-PHẬT:  (QUÁN -THÂN: CHỦNG-TỬHRÌH)

ÒM   DHARMA   VAJRI   AGNI    HRÌH.

9./ NA-MÔ KIM-CANG NGHIỆP  BA-LA-MẬT TÔN-PHẬT:(QUÁN -THÂN:CHỦNG-TỬ AH)

ÒM   KARMA   VAJRI    AGNI    ÀH

10./ NA-MÔ  KIM-CANG TÁT-ĐỎA  TÔN-PHẬT:(QUÁN -THÂN  : THÀNH  CHỦNG-TỬA)

ÒM   VAJRA   SATVA   AGNI   HUM   ÀH

11./ NA-MÔ  KIM-CANG  VƯƠNG  TÔN-PHẬT:(QUÁN-THÂN : CHỦNG-TỬ   JAH)

ÒM   VAJRA   RÀJA   AGNI   HUM   JJAH.

12./ NA-MÔ   KIM-CANG  NHIỄM  TÔN-PHẬT:(QUÁN -THÂN  :  CHỦNG-TỬ   HOH)

ÒM   VAJRA   RÀJA   AGNI   HUM   JJAH

13./NA-MÔ  KIM-CANG XƯNG  TÔN-PHẬT:(QUÁN -THÂN : THÀNH  CHỦNG-TỬ  SAH) 

ÒM   VAJRA   SÀDHU  AGNI  HUM   SAH

14./ NA-MÔ  KIM-CANG  BẢO-UY-QUANG  TÔN-PHẬT:( QUÁN -THÂN :  THÀNH CHỦNG-TỬ   OM)

ÒM    VAJRA   RATNA   AGNI  HUM   ÒM

15./ NA-MÔ  KIM-CANG QUANG-MINH-UY TÔN-PHẬT:(QUÁN -THÂN : THÀNH CHỦNG-TỬ  AM)

ÒM    VAJRA   TEJA   AGNI   HUM   ÀM

16./  NA-MÔ  KIM-CANG  TRÀNG  ĐẠI-QUÂN  TÔN-PHẬT:  ( QUÁN -THÂN :THÀNH CHỦNG-TỬ  TRÀM)

ÒM   VAJRA  KETU  AGNI   HUM   TRÀM 

17./ NA-MÔ  KIM-CANG TIẾU  TÔN-PHẬT:  (QUÁN -THÂN  : THÀNH   CHỦNG-TỬ HAH)

ÒM   VAJRA  HÀSÀ  AGNI   HUM   HAH

18./ NA-MÔ  LIÊN-HOA  TỰ-TẠI-VƯƠNG  TÔN-PHẬT:(QUÁN -THÂN  : CHỦNG-TỬ  HRÌH)

ÒM   VAJRA   DHARMA  AGNI   HUM   HRÌH

19./ NA-MÔ  KIM-CANG  MÃNH-LỢI-ĐAO  TÔN-PHẬT :(QUÁN -THÂN  : CHỦNG-TỬ DHAM)

ÒM  VAJRA TIKSNA AGNI  HUM  DHAM

 20./ NA-MÔ  KIM-CANG CHUYỂN-LUÂN-GIẢ TÔN-PHẬT:(QUÁN -THÂN:CHỦNG-TỬ  MAM)

ÒM   VAJRA   HETU  AGNI   HUM   MAM

21./ NA-MÔ  KIM-CANG  NGỮ-NGÔN  TÔN-PHẬT:(QUÁN -THÂN  : CHỦNG-TỬ  RAM)

ÒM   VAJRA  BHÀSÀ  AGNI  HUM  RAM

22./ NA-MÔ  KIẾT-MA  KIM-CANG-TẠNG  TÔN-PHẬT: (QUÁN -THÂN : CHỦNG-TỬ  KAM)

ÒM   VAJRA  KARMÀ  AGNI  HUM   KAM

23./ NA-MÔ  KIM-CANG GIÁP-TRỤ-QUANG TÔN-PHẬT:(QUÁN -THÂN :CHỦNG-TỬ  HAM)

ÒM   VAJRA  RAKSÀ  AGNI   HUM   HAM

24./ NA-MÔ KIM-CANG BỐ-THỰC-ĐẠM  TÔN-PHẬT:(QUÁN -THÂN : CHỦNG-TỬ  HUM)

ÒM  VAJRA  YAKSÀ  AGNI  HUM   HUM

25./ NA-MÔ  KIM-CANG  MẬT-TRÌ  TÔN-PHẬT:  (QUÁN -THÂN  : THÀNH   CHỦNG-TỬ   VÀM)

ÒM   VAJRA  SANDHI  AGNI  HUM   VÀM

26./ NA-MÔ  KIM-CANG  HỶ   TÔN-PHẬT:(QUÁN -THÂN  : THÀNH   CHỦNG-TỬ   HOH)

ÒM  VAJRA   LÀSYE   AGNI   HUM   HOH.

27./ NA-MÔ  KIM-CANG  MAN  TÔN-PHẬT:  (QUÁN -THÂN  : THÀNH   CHỦNG-TỬ   KSTA)

ÒM  VAJRA  MALE   AGNI   HUM   TRAT

28./ NA-MÔ  KIM-CANG  CA  TÔN-PHẬT:(QUÁN -THÂN  : THÀNH   CHỦNG-TỬ   GNÌH)

ÒM   VAJRA  GÌTE   AGNI   HUM   GIH

29./ NA-MÔ  KIM-CANG     TÔN-PHẬT:  (QUÁN -THÂN  : THÀNH   CHỦNG-TỬ   KSU)

ÒM  VAJRA  NRTYE  AGNI   HUM   KRT

30./ NA-MÔ  KIM-CANG  HƯƠNG  TÔN-PHẬT:  (QUÁN -THÂN  : THÀNH   CHỦNG-TỬ  AH)

ÒM   VAJRA  DHRME   AGNI  HUM   ÀH

31./ NA-MÔ  KIM-CANG  HOA  TÔN-PHẬT:(QUÁN -THÂN  : THÀNH   CHỦNG-TỬ   OM) 

ÒM   VAJRA   PUGHE   AGNI   HUM   ÒM

32./ NA-MÔ  KIM-CANG   ĐĂNG  TÔN-PHẬT:  (QUÁN -THÂN  : THÀNH   CHỦNG-TỬ   ’SA) 

ÒM   VAJRA   ROKE   AGNI   HUM   DÌH

33./ NA-MÔ  KIM-CANG   ĐỒ   TÔN-PHẬT:   (QUÁN -THÂN  : THÀNH   CHỦNG-TỬ   GAH) 

ÒM  VAJRA GANDHA  AGNI  HUM  GAH

34./ NA-MÔ  KIM-CANG CÂU  TÔN-PHẬT:(QUÁN -THÂN  : THÀNH  CHỦNG-TỬ  JAH)

ÒM  VAJRA  KU’SA  AGNI  HUM  JAH

35./ NA-MÔ   KIM-CANG  SÁCH  TÔN-PHẬT:(QUÁN -THÂN  : THÀNH   CHỦNG-TỬ   HUM)

ÒM   VAJRA  PA’SA  AGNI   HUM   HUM

36./ NA-MÔ   KIM-CANG  TỎA  TÔN-PHẬT:  (QUÁN -THÂN  : THÀNH   CHỦNG-TỬ   VAM)

ÒM  VAJRA  SPHUTA  AGNI  HUM  VAM

37./ NA-MÔ  KIM-CANG  LINH   TÔN-PHẬT:  (QUÁN -THÂN  : THÀNH   CHỦNG-TỬ   HOH)

ÒM  VAJRA  VE’SA   AGNI   HUM   HOH

 

 

Trực tuyến

Trang web hiện có:
5 khách & 0 thành viên trực tuyến

Mới nhất