Bài 3 - Bát Chánh Đạo

Để hiểu đúng tinh thần nhà Phật trong mọi Văn – Tư – Tu, người đọc / người học Phật cần nắm rõ tinh thần Phật Đạo dưới đây được xem như là một Kim Chỉ Nam (một định lượng đo lường Chánh Pháp) cho mọi suy luận về nghĩa và hành sự. Điều này sẽ được áp dụng cho tất cả các bài viết Văn – Tư – Tu về sau này:

1.     Tự lợi – Lợi Tha & Tự Giác – Giác Tha: bất cứ luận nghĩa về lý hay vận dụng về sự đều phải có lợi cho mình và có lợi cho người. Mình được giác ngộ tức là người khác cũng được giác ngộ hoặc ngược lại. Nếu vẫn chưa luận hay dụng được hai mặt này thì xem như vẫn còn chưa thông. Lý sự chưa viên dung.

2.     Hiển – Mật Đồng Đẳng: Mọi lý luận về nghĩa hay dụng về sự đều có hai mặt của một vấn đề. Nếu nhìn được phần Hiển thì cố gắng nhìn luôn phần Mật để thấy tính Chân Thật của nó. Hay nói đúng hơn là vận dụng Bát Nhã Trí (cơ bản là Pháp Đối Trị) làm chủ đạo trong tư tưởng, như là mẹ của các Pháp mà Phật đã nói đến.

3.     Ngã Nhân Chúng Sanh Thọ Giả như huyễn: tức cả các hiện tượng đều do nhân duyên mà sanh. Nếu đã do nhân duyên sanh thị thoắt đến thoát đi, có thường có đoạn. Nhìn các hiện tượng bên ngoài để đối ứng vào bên trong và ngược lại. Hiểu được vậy thì mới thấy được Ngã Nhân như Huyễn, mới nắm bắt sâu được tính chân thật của Lý và Sự.

4.     Hai Vô Ngã: Pháp vốn Vô Ngã, Nhân cũng vốn Vô Ngã

 

 

 

 Hỏi: Thế nào là BÁT CHÁNH ĐẠO?  Hiểu sao cho đúng tinh thần Phật Đạo?

 

Viết và luận giảng bởi: Kim Cang Tấn Dũng

Ngày 04 tháng 04 năm 2017

 

Đã từ lâu mọi người, những ai là Phật tử theo đạo, đều được nghe hoặc được giảng ít nhiều về Bát Chánh Đạo trong nhà phật – hay còn được gọi là Bát Thánh Đạo, Bát Chi, Bát Pháp v.v…

 

Để hiểu đúng tinh thần nhà Phật trong mọi Văn – Tư – Tu, người đọc / người học Phật cần nắm rõ tinh thần Phật Đạo dưới đây được xem như là một Kim Chỉ Nam (một định lượng đo lường Chánh Pháp) cho mọi suy luận về nghĩa và hành sự. Điều này sẽ được áp dụng cho tất cả các bài viết Văn – Tư – Tu về sau này:

1.     Tự lợi – Lợi Tha & Tự Giác – Giác Tha: bất cứ luận nghĩa về lý hay vận dụng về sự đều phải có lợi cho mình và có lợi cho người. Mình được giác ngộ tức là người khác cũng được giác ngộ hoặc ngược lại. Nếu vẫn chưa luận hay dụng được hai mặt này thì xem như vẫn còn chưa thông. Lý sự chưa viên dung.

2.     Hiển – Mật Đồng Đẳng: Mọi lý luận về nghĩa hay dụng về sự đều có hai mặt của một vấn đề. Nếu nhìn được phần Hiển thì cố gắng nhìn luôn phần Mật để thấy tính Chân Thật của nó. Hay nói đúng hơn là vận dụng Bát Nhã Trí (cơ bản là Pháp Đối Trị) làm chủ đạo trong tư tưởng, như là mẹ của các Pháp mà Phật đã nói đến.

3.     Ngã Nhân Chúng Sanh Thọ Giả như huyễn: tức cả các hiện tượng đều do nhân duyên mà sanh. Nếu đã do nhân duyên sanh thị thoắt đến thoát đi, có thường có đoạn. Nhìn các hiện tượng bên ngoài để đối ứng vào bên trong và ngược lại. Hiểu được vậy thì mới thấy được Ngã Nhân như Huyễn, mới nắm bắt sâu được tính chân thật của Lý và Sự.

4.     Hai Vô Ngã: Pháp vốn Vô Ngã, Nhân cũng vốn Vô Ngã

 

Phần 1: Thế thì hiểu như thế nào là Bát Chánh Đạo?

 

Trước hết chúng ta hãy đi vào mặt Hiển nghĩa của các khái niệm này

Như mọi người đều biết, khi nói đến Bát Chánh Đạo là chúng ta nói đến:

1.     Chánh kiến

2.     Chánh tư duy

3.     Chánh ngữ

4.     Chánh nghiệp

5.     Chánh mạng

6.     Chánh tinh tấn

7.     Chánh niệm

8.     Chánh định

 

Tôi cũng tin rằng, đã có rất nhiều sách vở, trang web hoặc bài giảng về Bát Chánh Đạo đều gần như giảng nghĩa hiển rất rõ ràng thế nào là Bát Chánh Đạo.

 

Ví dụ như:

Tất cả đơn thuần đi vào mặt nghĩa hiển là chúng ta phải:

(1)   CHÁNH KIẾN: Có kiến thức đúng, kiến thức, nhận thức hiểu biết về chân chánh. Phải nhận thức sáng suốt về mọi thứ, về nhân quả, về hữu tình, về vô thường, về chúng sanh v.v….

(2)   CHÁNH TƯ DUY: Suy nghĩ chân chánh, cái nào đúng, cái nào sai? Suy nghĩ làm thế nào lợi người lợi mình, không suy nghĩ bậy bã, nôm na là suy nghĩ về thập thiện, thập hồi hướng v.v…

(3)   CHÁNH NGỮ: những lời nói chân thật, những lời nói đúng, những lời nói không hai lưỡi, không hại người, không nói bậy, những lời nói chân thành với chính mình v.v…

(4)   CHÁNH NGHIỆP: những hành động đúng, hành động tốt, không được hại người sát sanh, không hành động phạm giới, phải hành động đúng đạo đức, đúng lương tâm v.v…

(5)   CHÁNH MẠNG: nào là mạng sống phải quí giữ, đời sống phải chân thành, phải thanh cao, phải trong sạch, sống không được mê tín, sống không được luồng cuối v.v…

(6)   CHÁNH TINH TẤN: Tinh tấn là phải siêng năng, phải chuyên cần tu tập, tu học, chuyên cần làm phước, tích đức, phóng sanh, bố thí, không được siêng năng trong say sưa, mê dục, mê đắm danh và sắc v.v…

(7)   CHÁNH NIỆM: Niệm là ghi nhớ, là nhớ nghĩ chân chánh, nhớ nghĩ đúng. Nhớ nghĩ về tứ niệm xứ, nghĩ về ân tình ân nghĩa, nghĩ về sai phạm quá khứ để sửa sai hướng về tương lai tốt hơn, không được nghĩ về những hận thù, nghĩ và nhớ sâu thêm về từ bi về tứ diệu đế v.v….

(8)   CHÁNH ĐỊNH: lá sự thiền định trong Phật học, về quán tưởng trong thiền định, quán từ bi, quán nhân duyên, quán nhẫn vô sanh, quán chủng tử, không nên thiền định về bùa chú, về thần thông, về bất tử v.v….

 

Ngoài ra, rất nhiều nhận định đều cho rằng Bát Chánh Đạo là giáo lý căn bản của Đạo Đế (nằm trong Tứ Đế) và là một phần của 37 Phẩm trợ đạo.

 

Vâng, đâu đâu cũng nói như thế và dường như Bát Chánh Đạo quá đơn giản, quá dể hiểu, quá dễ dùng, để ghi nhớ và để áp dụng. Nhưng thực tế, Bát Chánh Đạo là một con đường lớn để hiểu và xâm nhập theo nghĩa nhà Phật một cách thâm sâu từ sơ tế đến vi tế.

 

Vì sao lại là thế?

Chúng ta hãy thử đặt ra một số câu hỏi đơn giản để xem thử những hiển nghĩa trên kia lý giải có hợp lý chưa và đầy đủ chưa?

 

1.     Tại sao khi nói về Bát Chánh Đạo, dường như có 1 trật tự trình bày khá là bất di bất dịch (từ  Kiến – Tư Duy – Ngữ - Nghiệp – Mạng – Tinh Tấn – Niệm – Định)? Trật tự sắp xếp này có thay đổi được chăng? Tại sao không bắt đầu là Ngữ hay là Nghiệp?

2.     Nói về Bát Nhã Trí, khi chúng ta quán Ngũ Uẩn Giai Không (Xúc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức), quán Tứ Đại vô sở chủ (Đất – Nước  - Lửa – Gió) vì con người vốn hợp nhất được từ Tứ Đại cộng với tinh cha và huyết mẹ. Với tinh thần Bát Nhã Trí đó, mọi người đều biết:

-         Đúng chẳng khác Sai, Sai chẳng khác Đúng

-         Đúng tức là Sai, Sai tức là Đúng

-         Đúng vẫn cứ là đúng, Sai vẫn cứ là sai

-         Đúng Sai chẳng phải là 2 mà cũng chẳng phải 1.

Bát Nhã Trí được ví là mẹ của các Pháp, mẹ của các chư Phật để quẳng bớt ách khổ khi quán Bát Nhã Trí này.

Vậy thì? Thế nào là Đúng! Thế nào là Sai!. Mà nếu vẫn quán vậy thì liệu các giải thích hiển nghĩa trên về Đúng-Sai có hợp lý?

3.      Con người khi sinh ra đã là chịu khổ. Vì sao vậy? Vì theo 12 nhân duyên: vô minh sinh hành, hành sinh thức, thức sinh danh sắc, danh sắc sinh lục nhập v.v…..cứ thế mà xoay vòng 12 nhân duyên. Con người, vốn dĩ khi sinh ra là tinh khiết, nhưng vì nhân duyên như trên mà con người ai ai cũng đã Vô Minh thì mọi hành động cũng thế mà vô minh. Làm gì còn đúng và sai mà phân biệt. Mà đã vô minh thì lấy gì mà hiểu đúng được Bát Chánh Đạo trên?

Tất cả những kiến thức mà chúng ta nghĩ chúng ta đang có, đang sở hữu, đang cho là đúng è Thực tế, trong nhà Phật, họ coi tất cả những KIẾN đó đều là Biên Kiến – Định Kiến – Thành Kiến – Chấp Kiến – Ngã Kiến v.v….. các Kiến đó đều là hữu hạn, đều là có ngần mé và đúng với mặt này, chưa chắc đúng với mặt khác.

 

Nếu xét về mặt hiển nghĩa, tôi không cho là tất cả những lý giải trên là sai. Những lý giải trên là đúng theo nghĩa Sơ Tế, hiểu thô sơ giữa Đúng và Sai, giữa Chánh và Tà, Giữa Phi pháp và Hợp Pháp v.v…..

Điều đó rất khế cơ và khế lý với nhưng ai trên bước đường Sơ khai đi vào Tu tập và tu hành Phật Giáo. Tuy nhiên, giáo lý Bát Chánh Đạo đó không dừng lại như thế, giáo lý đó rất tinh tế và là một dòng Thánh Trí dành cho những ai khi đi thẳng vào Đạo Đế mà tu tập, dành cho những ai đã biết được Khổ Đế (Nhận biết được các loại tâm bệnh), những ai đã biết được Diệt Đế (Nhận biết được các nguyên nhân gây khổ), những ai đã biết được Tập Đế (Nhận biết được các phương thuốc chữ bệnh khổ) thì khi đi vào Đạo Đế mới ứng dụng Bát Chánh Đạo này như một phương tiện cứu cánh mà hành và diệu dụng Dòng Thánh Trí đó.

 

Tôi xin trình bày nghĩa vi tế đó trong phần 2, vì với các câu hỏi trên đặt ra, những lý giải trên vẫn chưa thể trả lời hết được.

 

 

Phần 2: Bát Chánh Đạo hiểu theo tinh thần nhà Phật, tinh thần cầu Vô Thượng Đạo, tinh thần Mật nghĩa và Vi tế?

 

Đối với tinh thần Cầu Vô Thượng Đạo, chúng ta đều hướng tới tinh thần là Giác Ngộ và Giải Thoát. Các bạn sẽ được nghe tôi cứ lặp đi lặp lại những từ “Giác ngộ, Giải Thoát hay Vô Thượng Đạo” vì tôi mong người đọc hay người có nhân duyên với các bài pháp tôi viết, hãy nghĩ sâu hơn, luận sâu hơn về tinh thần trên thì mới hiểu được điều Mật nghĩa mà nhà Phật muốn nói đến đó.

Như vậy với tinh thần đó, thì hiểu Bát Chánh Đạo theo Mật nghĩa như sau:

 

(1) CHÁNH KIẾN: chỉ có những Tri Kiến Phật mới được gọi là Chánh Kiến. Còn tất cả những kiến thức thế gian đều chỉ đúng trong sơ tế nghĩa mà thôi. Vì sao vậy? vì Tri Kiến Phật thì mới Đúng theo nghĩa tuyệt đối, đúng theo tinh thần Chân lý. Tri kiến Phật là gì? Đó là những bài kinh Phật thuyết được để lại, đó là những Chân lý mà Phật từng thuyết.

 

Ví dụ: dưới đây có thể được xem là một số Chánh Kiến hay Chân lý mà Phật thuyết

-         Đã có sanh thì phải có diệt. Đã không sanh thì không có diệt

-         Hễ có bắt đầu là có kết thúc. Nơi nào bắt đầu là nơi ấy kết thúc

-         Ngã tánh tức Phật tánh – Sanh tử tức Niết Bàn – Phiền não tức Bồ Đề

-         Trong mỗi chúng ta, ai cũng đều có Phật tánh

-         V.v……

 

(2) CHÁNH TƯ DUY: muốn có Chánh tư duy thì phải suy nghĩ những gì mà Phật thường suy nghĩ. Phải có nguyện hạnh thì mới có thể có được chánh tư duy. Ở đây tôi không muốn dùng từ Ý vì Ý là liên quan đến Pháp, còn tư duy đây là liên quan đến cách nhìn vấn đề, cách suy nghĩ nhưng có thể chưa ra được phương pháp. Vậy thì Phật thường nghĩ gì?

 

Ví dụ: dưới đây có thể được xem như là một số chánh tư duy mà Phật thường suy nghĩ:

-         Phật thường luôn nghĩ làm thế nào mà tăng phước cho chúng sanh?

-         Làm thế nào để giảm bớt tội nghiệp cho chúng sanh?

-         Phật thường luôn nghĩ làm sao chúng sanh nhanh thành Phật?

-         Làm sao chúng sanh bớt khổ, bớt làm ác ?

-         Phật thường luôn nghĩ làm thế nào chúng sanh có thể tiếp cận được với tri kiến phật?

-         V.v…..

 

(3) CHÁNH NGỮ: chỉ có Chân Ngôn của nhà Phật thì được xem là Chánh ngữ. Tất cả các ngôn từ thế gian, thậm chí các từ ngữ trong các pháp để lại trong kinh Phật cũng chỉ là theo nhân duyên mà có. Pháp vốn dĩ vẫn là pháp duyên, chỉ khế cơ khế lý theo ngữ cảnh đó, nhân duyên đó. Về cơ bản, pháp vốn tịch tịnh, pháp bất khả thuyết. Do vậy mà Phật vẫn nói trước khi nhập diệt là Ta chưa hề nói pháp nào trong 49 năm thuyết pháp, một chút pháp thành tựu cũng không có là vậy.

Ví dụ: dưới đây có thể được xem như là một số Chánh ngữ mà Phật muốn chúng sanh dùng.

-         Chân ngôn Quán thế Âm bồ tát: OM MANI PADME HUM

-         Chân ngôn Văn Thù Sư Lợi: A RA PA CA NA

-         V.v……..

 

(4) CHÁNH NGHIỆP: chỉ có Nghiệp lực của chư Phật mới được xem là chánh nghiệp. Còn bất cứ nghiệp nào liên quan đến cái Ngã, cái Ta thì có thể đều được xem là Bất Định nghiệp, hoắc nghiệp, là Tam nghiệp của chúng sanh, là cộng nghiệp của muôn loài v.v….. Nghiệp lực của chư Phật đây có thể xem sự nghiệp ba đời mười phương của chư Phật là chánh nghiệp và chúng ta, những người con của nhà Phật, tiếp tục con đường sự nghiệp của ba đời mười phương chư Phật mà tiếp nối, phát huy, thừa hưởng và hoằng dương sự nghiệp chung ấy thì có thể được coi là hành Chánh nghiệp.

 

(5) CHÁNH MẠNG: Con người chúng ta ai ai cũng có một thân mạng. Nhưng thân mạng này chỉ mang tính chất là tạm bợ. Vì sao lại thế? Vì con người chúng ta được hình thành từ sự giả hợp của nhân duyên mà hình thành. Hay nói đúng hơn thân của chúng ta là thân thuộc về Tứ Đại (Đất – Nước – Lửa – Gió) + tinh cha + huyết mẹ mà giả hợp thành. Thân này rồi cuối cùng cũng trả về cát bụi, đều là giả hợp mà ra, thân này không có thật. Vậy cái gì là thật? Cái gì là Chánh mạng?

 

Ai ai cũng có thể đều biết chúng ta có Tứ thân: thân sanh tử - thân niết bàn – thân nguyện hạnh và thân Phật (hay còn gọi là Pháp thân). Ba thân đầu đều có sanh và có diệt, không tồn tại vĩnh viễn. Chỉ có thân Phật hay Pháp thân là bất sanh cũng như bất diệt. Thân này không có hình tướng, không có danh sắc để nhìn thấy nhưng đó là Thân trường tồn vĩnh hằng, không gì tác động được đến thân đó. Vậy chánh mạng là chúng ta cùng hướng đến Pháp thân này mà hành, mà nghĩ đến. Chỉ có thân đó, mạng đó mới được xem là chánh mạng.

 

(6) CHÁNH TINH TẤN: Tinh tấn là tiến hoá từ sơ đến tinh trong suy nghĩ, trong hành động v.v… Tại sao chúng ta cần tinh tấn? Vì tâm nghi là tâm chưa được tinh tấn. Mà tâm nghi do đâu mà ra? Do chúng ta chưa đạt đến mức độ Giải thoát và Giác ngộ nên chúng ta còn tâm nghi. Cách duy nhất để thoát khỏi tâm nghi là chúng ta cần phải tinh tấn. Muốn hành và nghĩ chánh tinh tấn, cách duy nhất là phải ngộ nhập được Tri Kiến phật, phải thường xuyên suy nghĩ về Giáo Pháp, về các việc làm và suy nghĩ của các chư Phật, phải hành trì niêm mật để thâm nhập vào Tam Mật của chư Phật (Đó là Ý Phật – Thân Phật và Khẩu Phật.) Chỉ có vậy mới hiểu được và hành được chánh Tinh tấn.

 

(7) CHÁNH NIỆM: Như giải thích trên, niệm là ghi nhớ. Vậy nhớ thế nào? Niệm ra sao? Là chúng sanh thì bất cứ niệm khởi nào cũng đều bị xem là vô minh theo như quán 12 nhân duyên mà luận. Niệm nào cũng sẽ bị kẹt chỗ này, mắc mứu chỗ kia. Muốn Chánh niệm thì duy nhất là hãy phát niệm theo Phật thì mới có thể xem là chánh. Vậy niệm theo Phật là niệm như thế nào?

 

Đó là niệm theo phát tâm – phát nguyện của các chư bồ tát, các chư phật, các a-la-hán hoặc các thiện tri thức nếu khó quá. Vì theo lý ở trên, nơi bắt đầu cũng là nơi kết thuc. Niệm khởi vô cùng quan trọng vì đó là đích đến của chúng ta ngay từ khởi niệm.

 

Ví dụ:

-         Bồ tát thường nguyện cứu độ chúng sanh cho đến khi nào chúng sanh không còn khổ nữa

-         Chư phật thì nguyện làm mọi thứ mọi cái cho đến khi nào chúng sanh thành Phật thì thôi.

-         Nguyện nào có dính líu đến Tam Bảo (Phật – Pháp – Tăng) thì cũng là chánh niệm

-         V.v…..

 

(8) CHÁNH ĐỊNH: chỉ khi nào chúng ta thiền định, nhập vào Tam muội gia thì đó mới được gọi là Chánh Định. Còn bất cứ thiền định nào, ở hình tướng nào thì cũng chỉ gọi là thiền định chúng sanh, thậm chí đến tứ thiền cũng chưa thể gọi là chánh định. Bởi thế Phật đã nói chúng ta cho dù có thiền định ra sao, thành tựu như thế nào thì có đến Tứ Thiển cũng chưa thể gọi là Giải thoát và Giác ngộ. Đến tứ thiền cũng phải buông bỏ nếu muốn nói đến trạng thái Giác ngộ hoàn toàn, trạng thái mà được gọi là Chánh đẳng Chánh Giác.

 

Chúng ta ngồi thiền định, tìm một nơi thanh tịnh, độc lập để thiền định thì chắc chắn là sẽ được định, nhưng cái Định ấy chỉ là định giả hợp mà thành. Vì sao gọi là giả hợp mà thành? Vì rõ ràng chúng ta cắt bỏ nhân duyên thông qua loại trừ 6 căn – 6 trần – 6 thức thì chúng ta phải định thôi. Mọi nhân duyên tạo ra quả của Căn và Trần đả bị loại bỏ hết thì không Định mới là lạ. Còn nếu chúng ta ra giữa chỗ đông người, ồn ào, phức tạp ….liệu chúng ta chó thể Định được như vậy không?

 

Do vậy, khi nói đến Chánh Định – nói đến Định trong Tam muội Gia hình, thì cái Định đó là cái cái Chánh Định vì nó không cần bất cứ nhận duyên nào vẩn cứ Định, không một nhân duyên nào thuộc về căn và trần có thể động đến cái Định đó được.

 

Như vậy, qua những khái niệm trên, chúng ta thầy rằng, phần Mật nghĩa của Bát Chánh Đạo vô cùng thâm sâu, vô cùng vi tế để thấu hiểu và thấu dụng là vô cùng bất khả thi. Những điều trên đã giải thích phần nào cho những câu hỏi bên trên. Phần câu hỏi về thứ tự thì như thế nào?

 

Như chúng ta có thể biết, bánh xe Chuyển Pháp Luân và bánh xe Luân Hồi về hình dạng thì giống nhau hoàn toàn không thể phân biệt được. Muốn phân biệt được, cách duy nhất để biết là:

-         Bánh xe Chuyển Pháp Luân thì hình Đứng. Vì sao? Vì hình đứng thể hiện sự chuyển động không dừng. Hình đứng thể hiện tính vật lý hoá nếu bánh xe xoay nhanh, tạo một lực ly tâm đẩy mạnh tất cả các thứ ra khỏi vòng ly tâm để chuyển sang hình thức khác, để tiến hoá, để tinh tấn, để thành cái mới. Có như vậy thì mới gọi là Giải thoát được

-         Con bánh xe Luân hồi thì hình nằm. Vì sao? Vì hình nằm thể hiện một vòng lẩn quẩn, luân hồi, không thể nào bức phá ra được cái vòng ấy.

 

Tôi đi lòng vòng vì tôi muốn trình bày đến phần thứ tự của Bát Chánh Đạo thể hiện ở hình Bánh Xe Chuyển Pháp Luân bên trên. Chúng ta hãy cùng nhau luận cho thấy sự sắp đặt thứ tự trên là nhà Phật muốn nói đến sự vận hành của Bát Chánh Đạo theo bánh xe Chuyển Pháp Luân để từ đó chúng sanh mới ngộ được, mới giải thoát triệt để được theo tinh thần Kim Chỉ Nam mà tôi đã nêu ngay từ đầu.

 

Đầu tiên là Chánh Kiến. Vì đã nói, nơi bắt đầu chính là nơi kết thuc. Vậy thì chúng ta phải bắt đầu từ cái cơ bản nhất đó là Chánh Kiến. Chúng ta phải có Tri Kiến Phật trước để bắt đầu mọi thứ theo nghĩa Chánh ngay từ đầu. Chỉ có Tri Kiến Phật (Chân Lý) là cái không cần phải chứng minh mà vẫn là đúng. Cho dù muốn nói gì thì nói, đó vẫn là chân lý. Trong toán học, tất cả các định lý thì cần chứng minh, tiên đề thì mặc nhiên là thế - không cần chứng minh. Vậy thí đối với Bát Chánh Đạo cũng thế, chúng ta bắt đầu bằng Chánh Kiến vì không cần phải bàn và luận gì nữa cả.  

 

Rồi từ Chánh Kiến làm nhân để sinh ra Chánh Tư Duy làm quả. Khi chúng ta đã có tri kiến phật, chúng ta bắt đầu tư duy sâu về giáo pháp, về những điều Phật dạy, những điều Phật suy nghĩ, những điều Phật mong muốn theo như đã nói bên trên. Tất cả những tư duy đó vẫn phải lấy tri kiến phật làm gốc để không đi sai lệch.  

 

Rồi lại tiếp tục lấy Chánh tư duy đó làm nhân để sinh ra Chánh Ngữ làm quả. Khi chúng ta nghĩ sâu về giáo pháp, hiểu rõ những việc làm – suy nghĩ – hành động của Phật rồi thì khi chúng ta nói ra thành lời thì sao không gọi là Chánh ngữ được. Mà muốn Chánh thật sự thì hãy dùng ngay Chân ngôn nhà Phật mà dụng.

 

Kế tiếp, với Chánh ngữ làm nhân từ đó lại tiếp tục sinh ra Chánh Nghiệp làm quả. Lời nói đúng sẽ dẫn đến việc làm đúng. Mà việc làm đúng theo tinh thần Nghiệp lực ba đời mười phương chư phật thì Nghiệp đó là Chánh nghiệp rồi, không thể là nghiệp của chúng sanh được.

 

Cứ tiếp tục thế, Chánh nghiệp lại làm nhân để sinh ra quả là Chánh mạng. Nghiệp của chúng sanh thì liên quan đến thân sanh tử, thân niết bàn, thân nguyện hạnh. Còn nghiệp lực của chư phật thì sẽ đem đến là Quả Pháp thân hay là Chánh Mạng.

 

Rồi Chánh mạng làm nhân để tiếp tục sinh ra Chánh Tinh tấn làm quả. Càng hành, càng nghĩ sâu về giáo pháp, về nghiệp lực chư Phật, rõ ràng Pháp Thân của chúng ta phải càng sáng. Pháp thân càng sáng, chúng ta càng không nghi ngờ con đường mà chúng ta hành và đi. Không còn nghi ngờ nhiều, ngày càng tin sâu hơn Tam bảo, ngày càng thấy cái tri kiến của ta càng thấp bé thì không phải là chúng ta càng tinh tấn hay sao? Giảm cái này thì phải tăng cái khác thôi. Định luật bảo toàn năng lượng cũng nói thế mà: Năng lượng không bao giờ mất đi mà chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác mà thôi.

 

Và nữa, khi Chánh Tinh tấn làm nhân, lại sinh ra cái quả kế tiếp là Chánh Niệm. Càng biết nhiều càng sợ nhiều, càng khiêm tốn thêm. Ngay cả Phật cũng từng nói: Bồ tát thì sợ Nhân, chúng sanh thì sợ Quả là thế. Chúng ta tinh tấn chúng ta càng thấy khởi niệm là vô cùng quan trọng. Bởi vậy, khi không tinh tần, niệm của chúng ta sẽ là tạp niệm. Còn tinh tấn sau, đã hiểu rõ Chánh ngữ, chánh mạng, chánh nghiệp, chánh tinh tần thì khi đến quả Chánh Niệm làm sao dám nghĩ đến tạp niệm được. Quả chánh niệm là có được do những duyên trên mà có. Khi ấy khởi niệm như bồ tát, như phật là điều phải làm và hành thôi.

 

Cuối cùng, với tất cả các bước, đặc biệt là Chánh niệm làm nhân thì với Quả là Chánh định là điểu hiển nhiên. Khi đã đi vào định tạm muội gia, thì tất cả Tri kiến, ngữ, nghiệp, mạng v.v…..đều hoà làm một. Mọi thứ đều nhập vào tam muội gia hình không một cũng không khác.

 

Rồi từ Chánh định, lại tiếp tục làm nhân để tiếp tục sinh ra Quả Chánh Kiến. Đã thông suốt, đã nhập vào tam muội gia hình thì những tri kiến Phật lại càng mở ra. Ngộ một pháp là ngộ muôn pháp – như Phật đã từng thuyết. Thế thì với Chánh Định làm nhân, làm sao mà lại không thể sinh ra Quả Chánh Kiến được.

 

Và cứ thế, cái này làm nhân cho cái kia sinh ra quả. Quả này lại tiếp tục làm nhân để sinh ra quả khác. Cứ thế mà xoay vòng và chuyển hoá thì làm sao mà không thể nói khi đã hiểu sâu và vận dụng linh hoạt Bát Chánh Đạo thì làm sao mà không Giải thoát và Giác ngộ được. Hình thành một vòng Chuyển Pháp Luân theo bánh xe Bát Chánh Đạo đó thì con người nếu không Tiệm ngộ (từ từ mà ngộ) thì cũng có lúc cũng sẽ được đốn ngộ (ngộ tức thời) theo tinh thần bánh xe Chuyển Pháp Luân đó.

 

 Phần 3: làm thế nào để hiểu và diệu dụng Bát Chánh Đạo theo cả tinh thần Hiển nghĩa và Mật nghĩa như trên trong đời sống?

 

Như chúng ta đã nói rất nhiểu ở trên cả về mặt Hiển nghĩa (hiểu sơ tế) và về mặt Mật nghĩa (hiểu vi tế), thì cách diệu dụng trong cuộc sống rất đơn giản.

 

Chúng ta hãy bắt đầu dùng Bát Chánh Đạo đầu tiên theo thứ tự nêu trên theo tinh thần của bánh xe Chuyển Pháp luân đã.

 

Đối với đời sống hằng ngày, hãy cố gắng ứng dụng cái sơ nghĩa với tất cả mọi chúng sanh, hiện tượng, người thân xung quanh mình. Làm gì làm chúng ta phải trang bị các tri thức, kiến thức ít nhiều để tránh làm điều sai, điều chưa đúng hoặc chưa hoàn thiện. Rồi theo thứ tự đó mà dần dần chuyển hoá thêm về tư duy, lời nói, hành động v.v….để tiến bộ. Tu đơn giản chỉ là qui trình Tu tập – Tu chỉnh – và Tu trì. Sai thì sửa, tiến hoá dần theo nghĩa hiển đã luận và giải thích. Và như đã nói về bánh xe chuyển Pháp luân, thì rõ ràng là không hề có điểm khởi đầu cũng như điểm kết thúc. Bánh xe cứ xoay vòng nhân này – quả kia, quả này - nhân kia. Do vậy, chúng ta cũng không nên quá vướng mắc trong việc Chánh kiến đến Chánh tư duy đến …..chánh này nọ. Chúng ta hãy chọn ngay cái Chánh nào mà chúng ta thấy phù hợp nhất mà diệu dụng.

 

 

Tuy nhiên, để đi vào Mật nghĩa của Bát Chánh Đạo thì cần phải khác. Vì sao?

Vì như đã nói, phần tinh tế rất khó hiểu và khó áp dụng. Điều đó là bất khả thi. Vậy thì làm sao mà đi vào được Đó? Làm sao mà có được Pháp Thân, làm sao mà có được nghiệp lực chư phật, làm sao mà Định v.v…..?

 

Đúng, rất khó – rất khó – và rất khó.

Cách duy nhất để chúng ta có thể đi vào Mật nghĩa là nằm ở Phần TU TRÌ.

Quá trình Tu Tập – Tu Chỉnh chỉ là phần Hiển nghĩa mà hiểu và hành.

Còn phần TU TRÌ là phần nhập hoàn toàn vào Bát Chánh Đạo theo đúng tinh thần Mật nghĩa nói trên. Đó là:

 

-         Chúng ta có thể tụng kinh, gõ mỏ hằng ngày theo thời nếu chúng ta tin và tu sâu về Giới. Khi tu Giới, hành trì phải niêm mật, giữ giới theo Tăng Ni. Khi tụng kinh gõ mõ, chúng ta sẻ hoàn toàn sát nhập vào thế giới của Thánh Trí, hay còn gọi là thế giới của Bát Chánh Đạo. Khi đó chúng ta không còn tạp niệm gì nữa, những lời tụng kinh gõ mõ là Ngữ Phật, kinh Phật nói là Niệm Phật. Việc tụng kinh là Nghiệp lực chư phật. Khi tụng kinh thân ta là Pháp Thân của chư Phật. Khi hành trì thì chúng ta đã Định v.v….

-         Tương tự cho những ai tu Thiền Định cũng thế.

-         Những ai tu TUỆ, thì phải nhập vào Pháp Đàn mà trì tụng. Khi trì tụng pháp đàn thì cũng tương tự như thế hết. Chân ngôn trong đàn là Chánh Ngữ, Ấn khế trong Đàn là thân Phật là Chánh Mạng, là Pháp Thân. Những lời nguyện trong đàn là Chánh Niệm, những hiểu biết về đàn là Chánh Kiến, khi hành trì đàn thì là Chánh Định v.v…..

 

 

Đó là tất cả những gì tôi muốn chia sẻ với các bạn về Bát Chánh Đạo. Mọi luận nghĩa đều có sức giới hạn của nó vì đây là pháp bất khả thuyết, pháp bất khả tư nghì nên không thể tránh khỏi nhưng sai sót hoặc những nhân duyên chưa khế cơ khế lý ở bên trên. Âu mọi thứ cũng là nhân duyên để đến được Tam bảo. Ai có nhân duyên đọc và hiểu đều là phần phước hoặc nghiệp lực chung của luôn loài. Ở đây không dám bàn luận sâu về phần đó.

Trực tuyến

Trang web hiện có:
5 khách & 0 thành viên trực tuyến

Mới nhất