Bài 1 - TỪ BI HỶ XẢ? Hiểu sao cho đúng tinh thần Phật Đạo?

 

Hỏi: Thế nào là TỪ BI HỶ XẢ? Hiểu sao cho đúng tinh thần Phật Đạo?

Viết và luận giảng bởi: Kim Cang Tấn Dũng. Ngày 25 tháng 8 năm 2015

Đã từ lâu mọi người, những ai là Phật tử theo đạo, đều được nghe hoặc được giảng ít nhiều về Tứ Vô Lượng Tâm trong nhà phật – hay còn được gọi là Đạo Từ Bi Hỷ Xả của nhà Phật. Bên Thiên Chúa Giáo hay Công Giáo thì người ta gọi là Tình Thương, là Lòng Bác Ái của Chúa. Về cơ bản thì gần như nhau.

Để hiểu đúng tinh thần nhà Phật trong mọi Văn – Tư – Tu, người đọc / người học Phật cần nắm rõ tinh thần Phật Đạo dưới đây được xem như là một Kim Chỉ Nam (một định lượng đo lường Chánh Pháp) cho mọi suy luận về nghĩa và hành sự. Điều này sẽ được áp dụng cho tất cả các bài viết Văn – Tư – Tu về sau này:

1. Tự lợi – Lợi Tha & Tự Giác – Giác Tha: bất cứ luận nghĩa về lý hay vận dụng về sự đều phải có lợi cho mình và có lợi cho người. Mình được giác ngộ tức là người khác cũng được giác ngộ hoặc ngược lại. Nếu vẫn chưa luận hay dụng được hai mặt này thì xem như vẫn còn chưa thông. Lý sự chưa viên dung.

2. Hiển – Mật Đồng Đẳng: Mọi lý luận về nghĩa hay dụng về sự đều có hai mặt của một vấn đề. Nếu nhìn được phần Hiển thì cố gắng nhìn luôn phần Mật để thấy tính Chân Thật của nó. Hay nói đúng hơn là vận dụng Bát Nhã Trí (cơ bản là Pháp Đối Trị) làm chủ đạo trong tư tưởng, như là mẹ của các Pháp mà Phật đã nói đến.

3. Ngã Nhân Chúng Sanh Thọ Giả như huyễn: tức cả các hiện tượng đều do nhân duyên mà sanh. Nếu đã do nhân duyên sanh thị thoắt đến thoát đi, có thường có đoạn. Nhìn các hiện tượng bên ngoài để đối ứng vào bên trong và ngược lại. Hiểu được vậy thì mới thấy được Ngã Nhân như Huyễn, mới nắm bắt sâu được tính chân thật của Lý và Sự.

4. Hai Vô Ngã: Pháp vốn Vô Ngã, Nhân cũng vốn Vô Ngã

Phần 1: Thế thì hiểu như thế nào là Từ, là Bi, là Hỷ và là Xả?

Trước hết chúng ta đi vào chiều Hiển Nghĩa của Tứ Vô Lượng Tâm.

Tâm Từ: là một trạng thái mở rộng tấm lòng bao dung, thông cảm, yêu thương đối với tất cả sự vật, con người xung quanh mình. Đối lập với “lòng từ” là “lòng sân hận”, là một trạng thái ghét bỏ, chán chường, phân biệt với tất cả mọi sự vật, con người xung quanh. Như vậy, người có lòng từ nhìn thấy xung quanh một tinh thần bao la bác ái, dễ đón nhận và hòa mình vào thế giới tâm của mọi vật. Nhìn thấy một người làm sai, làm ác, làm một việc không thiện, với một người có lòng từ, họ không trách móc, phê phán, chê bai mà ngược lại họ lại cảm thông, tìm hiểu để biết được nguyên nhân của sự việc với lòng từ tâm của họ thay vì sân hận họ.

Tâm từ thể hiện đến đâu thì mang đến đó một xúc cảm nhẹ nhàng, êm dịu, chan hòa, ấm áp môi trường xung quanh mình. Khi tâm từ xuất hiện thì đương nhiên tâm sân hận sẽ giảm hoặc mất đi, những ác ý, thù oán sẽ không phát sinh. Tâm từ ở đây là nói đến lòng yêu thương về tinh thần chứ không phải vật chất là sự yêu thương xác thịt, cơ thể hay lòng triều mến vị kỷ, lòng luyến ái vì một mối nhân duyên thâm tình nào.

Nhưng theo tinh thần tự lợi – lợi tha, Tâm Từ đối với xung quanh như thế nào thì cũng được thể hiện đối với chính bản thân mình như thế đó. Cảm thông, yêu thương mọi người xung quanh thì cũng phải yêu thương lấy chính bản thân mình. Lo lắng mọi người vì lòng từ ái mà quên đi bản thân thì đó là tâm “từ kỷ” để rồi bản thân mình không được khoẻ mạnh cả về vật chất lẫn tinh thần thì ấy là hiểu sai Tâm Từ của nhà Phật. Chúng ta phải hiểu nhà Phật muốn nói đến tâm từ ở đây là “Tâm Từ Mẫn”, dùng sự sáng suốt của lý trí, lý lẽ của Phật Đạo mà thể hiện lòng từ với mọi chúng tình (Chúng Sanh hữu tình và vô tình) một cách đúng nhất theo thời gian, không gian và tâm đạo. Đó là Hiển Nghĩa của Tâm Từ.

Tâm Bi: là một trạng thái thương xót, rung động, xót xa cho những Chúng tình xung quanh đang bị phiền não, âu sầu khủng bố tinh thần và vật chất hay bị tâm bệnh làm hại. Đối lập với “Tâm bi” là “tâm vô thường” khi họ xem tất cả các sự việc, con người xung quanh mình đều là vô thường mà ra. Vì xem là vô thường nên họ vô tình hay cố ý vô tình không quan tâm đến các chúng tình đang đau khổ, đang phiền muộn hay vì họ đang có phần phước nào đó mà họ không rơi vào những trạng thái tâm phiền não, họ không thấy sự liên quan và dung thông đến bản thân mình.

Tuy nhiên, khi nói đến Tâm bi, người ta thường nghĩ ngay đến việc thương xót những người nghèo hèn, bần cùng, cơ cực hay những người đang đau khổ mà thương xót. Điều đó cũng đúng nhưng đó là lòng thể hiện sự “Bi Ai” của con người chúng sanh chứ không phải là “Lòng Bi” theo tinh thần nhà Phật. Cũng giống như trên, Tâm Bi mà nhà Phật muốn nói đến là “Tâm Bi Mẫn”. Việc thể hiện tấm lòng thương xót Chúng tình cần phải dùng sự sáng suốt bằng lý trí mà thể hiện.

Không phải nhìn thấy cảnh đau khổ rồi hùa mình vào đó mà thương xót, thể hiện lòng bi ai rồi tâm mình cùng đau khổ, cùng bệnh theo họ thì như vậy là hại người hại ta rồi? Thương xót họ, đồng cảm với phiền não của họ, và vì Lòng Bi Mẫn của nhà Phật mà giúp họ một cách sáng suốt để thoát khỏi phiền não một cách gián tiếp hay trực tiếp, thấy giúp mà không có giúp, không có mong cầu báo đáp thì đó là lòng Bi Mẫn. Đồng cảm với đau khổ của chúng sanh nhưng tâm phải được thanh tịnh, tâm không bị cấu nhiễm bởi sự phiền lụy để rồi làm cho tâm phiền muộn kiểm soát chính mình thì đó mới chính là sự Bi Mẫn mà nhà Phật muốn nói đến. Chúng ta sẽ bàn sâu thêm phần Tâm Từ Bi theo nghĩa Mật và cách vận dụng thì sẽ được hiểu sâu thêm phần này.

Tại sao Tâm Từ và Tâm Bi thường đi liền với nhau? Cơ bản vì Tâm Bi làm nhân và Tâm Từ làm Quả nên cặp phạm trù này đi liền với nhau. Nhờ có tâm bi làm nhân (tâm thương xót), khi gặp duyên là hoàn cảnh hoặc sự việc phiền não diễn ra thông qua tai nghe, mắt thấy thì Tâm Từ (Tâm bao la) khởi lên với lòng bao dung và thông cảm hiển hiện cho Chúng tình xung quanh. Người ta gọi chung qui lại là Tâm Từ Bi.

Tâm Hỷ: là một trạng thái vui vẻ, hoan hỷ, lạc quan cho những Chúng tình xung quanh đang gặp được nhiều điều may mắn, gặp thiện nghiệp, cuộc sống an lạc hoặc thấy Chúng tình đang hướng thiện, hướng đến Tam bảo và giải thoát. Đối lập với “lòng vui vẻ = tâm hỷ” là “lòng ganh tỵ = tâm sân”. Tâm sân luôn luôn không chấp nhận hoặc thỏa mãn những gì xung quanh có và hơn mình nhưng ngược lại với người có tâm hỷ, họ cùng hòa mình vào niềm vui chung của mọi người, hoặc thậm chí luôn mang trong tâm một trạng thái làm thế nào mọi người luôn luôn được hoan hỷ và đương nhiên trong đó cũng có mình theo tinh thần tự lợi – lợi tha.

Tâm hỷ luôn tạo ra một không gian/ một trạng thái hỷ lạc và lạc quan, họ luôn luôn nghĩ đến ánh sáng (mặt tốt của sự việc) trong mọi lúc mọi nơi cho dù bóng tối (mặt không tốt của sự việc) có vây quanh lấy chính họ. Do Tâm hỷ là sự vận hành lý trí tâm bên trong nội tại, nên Tâm hỷ hoàn toàn độc lập và không bị kiểm soát bởi tính sự bên ngoài tác động.

Tuy nhiên, để có được Tâm hỷ thì vô cùng khó so với Tâm Từ Bi vì người có tâm Hỷ phải luôn luôn chủ động dùng lý trí và sự sáng suốt của Giáo lý nhà Phật mà nhìn mọi sự vật hoặc chúng tình xung quanh trong con mắt lạc quan, hoan hỷ cho dù Cảnh và Trần theo nhân duyên diễn ra tốt hay xấu đi chăng nữa. Đó mới chính là Tâm hỷ Lạc thật sự mà theo Hiển nghĩa nhà Phật muốn nói đến.

Tâm Xả: là một trạng thái muốn hoặc hành động/suy nghĩ buông bỏ, đưa ra ngoài, bỏ qua hết những phiền não, những thứ không tốt, những bóng tối của chính Mình và cả của những Chúng tình xung quanh mình đang gặp phải. Trái với “Tâm xả” là “Tâm cố chấp” vì Tâm cố chấp là loại tâm luôn luôn muốn giữ lại, không từ bỏ bất cứ thứ gì cho dù thứ đó có lợi hoặc có hại cho ta hay cho mọi người xung quanh. Tuy nhiên, mọi người trước giờ vẫn suy nghĩ hoặc được giảng rằng Tâm xả là chỉ đơn thuần buông bỏ hết mọi thứ xung quanh thì đã coi như xả, không quan tâm đến nữa.

Hiểu như vậy là hiểu sai tinh thần Phật đạo rồi. Xả bỏ ở đây không phải là buông bỏ hết, không màng đến là xả vì hành động như thế, mang cái tâm như thế thì đâu khác gì là một tâm lãnh đạm, một tâm thờ ơ, một tâm vô thường rồi? Nói đến tâm xả mà hiểu không rõ ý nghĩa “buông xả” thì nếu ta buông bỏ hết, không quan tâm nữa thì những lý giải bên trên về Tâm Từ Bi, Tâm Hỷ làm sao mà thực hiện được nữa?

Buông xả ở đây là loại bỏ khỏi tâm mình những tạp niệm, những suy nghĩ trói buộc, những suy nghĩ phiền não mà gây hại cho mình và người, làm cho mình và người không được yên được an lạc. Còn những điều gì tốt đẹp, những suy nghĩ an lạc cho cả mình và người thì cứ giữ lại. Bởi thế, theo đúng tinh thần tự lợi – lợi tha, Tâm xả nhiều khi được vận dụng không chỉ vì lợi cho mình mà xả nhưng đôi khi vì lợi cho người mà chúng ta cũng phải xả.

Một ví dụ cho thấy: một người nào đó vô tình họ gặp ta và chửi mắng ta, theo thông thường thì chúng ta sẽ bực tức và chửi mắng lại. Nhưng khi nghĩ đến lý nhân quả của nhà Phật, họ mắng ta họ sẽ bị nghiệp ít nhiều, khi ta mắng lại ta cũng bị thế. Nghiệp cứ sẽ chồng nghiệp mặc dù nhân duyên người lạ đến mắng ta không rõ nguồn gốc (Phần này sẽ nói sâu thêm ở phần Mật Nghĩa). Vì nghĩ đến cái xấu sẽ mang đến cho cả người chửi ta và cả ta khi chửi lại, ta quyết định XẢ. Vậy hành động buông xả này hoàn toàn khác với hành động thờ ơ, không quan tâm đến, lãnh đạm hay xem vô thường. Vì sao khác? Khác là vì diễn biến tâm khác. Trong tâm diễn ra một loạt các loại tâm từ bình thường tâm đến phức tạp tâm, nhưng nhờ vận dụng lý trí sáng suốt của nhà Phật mà đi đến quyết định dùng Tâm xả có lợi cho người và mình thì đó mới đúng là Tâm xả theo Hiển nghĩa nhà Phật muốn nói đến. Không những thế, khi vừa xả xong, ta lại cảm thấy thương cho người chửi ta vì nghĩ đến nghiệp họ sẽ gánh, lập tức Tâm Từ và Tâm Bi xuất hiện. Và sau cùng, nhờ ta làm hành động xả ít nhiều cũng không tạo nghiệp thêm cho họ, Tâm Hỷ liền đến. Như vậy, tâm xả là tâm khó thực hiện nhất do ta xả vì có lợi cho cả mình và người bằng lý trí sáng suốt và khi dùng tâm xả đã bao gồm Tứ vô lượng tâm trong đó.”

Bây giờ, chúng ta đi sâu vào chiều Mật Nghĩa của Tứ Vô Lượng Tâm. Hiểu thế nào là chiều Mật Nghĩa? Ở đây, chúng ta sẽ nhìn Tứ Vô Lượng tâm theo 3 thời: quá khứ - hiện tại - vị lai và vận dụng lý thâm sâu của Lý & Sự viên dung để hiểu thêm về mặt Mật Nghĩa của Tứ Vô Lượng tâm này.

Như chúng ta thấy, mỗi một sự việc hoặc một Chúng Tình (= chúng sanh hữu tình và vô tình) ở hiện tại đang gặp những quả An lạc, Hạnh phúc, Giàu Sang hay ngược lại quả Đau khổ, Phiền não, Nghèo hèn thì chắc chắn đều do Nhân Duyên và Nhân Quả hình thành nên. Nhân ở trong quá khứ thuộc kiếp này hay các kiếp trước hình thành quả của ngày hôm nay. Biết được thế thì cũng tương tự phải hiểu rằng, Quả của ngày hôm này sẽ thành Nhân trong quá khứ nếu chúng ta nhìn đến quả của tương lai. Nghĩa là cái quả hiện tại không có nghĩa là cố định hay không thay đổi được. Nếu chúng ta tạo nhân trợ duyên tốt thì tương lai cũng sẽ gặt hái được quả lành quả thiện thay vì quả ác quả nghiệp. Với cách nhìn 3 chiều: quá khứ - hiện tại – vị lai về nhân quả rồi thì vẫn chưa đủ. Để nhìn được thêm Mật nghĩa của Tứ vô lương tâm, điều kiện cần nữa là chúng ta cần vận dụng thêm lý & sự của nhà Phật nữa thì cái nhìn mới vẹn toàn. Nói như vậy chắc là nghe khó hiểu và các bạn tưởng tôi nói vòng vòng?

Ở đây muốn nhắc các bạn rằng, về mặt Hiển nghĩa của Tứ Vô Lượng Tâm đã được diễn bày ở trên, chúng ta có thể dụng tâm theo đúng tinh thần hiển nghĩa đó. Tuy nhiên, chúng ta có thể bị lầm nếu không nhìn xuyên suốt ba thời và lý nhân quả thì tâm thể hiện có thể không đúng.

Một ví dụ rằng: Đối với những người nghèo hèn, khổ đau chúng ta thể hiện tâm từ và tâm bi. Điều này đúng. Nhưng khi tiếp xúc, chúng ta thấy họ vẫn lạc quan, không nghĩ đến các ác nghiệp để mưu sinh và cuộc sống vẫn an lạc, vẫn hướng đến Tam bảo thì rõ ràng tương lai của họ sẽ được sáng, chúng ta thay vì cảm thấy thương xót họ (tâm bi) thì ngược lại chúng ta cảm thấy vui vẻ hoan hỷ (tâm hỷ) cho họ khi thấy được tiền đồ của tương lai ở kiếp này hoặc kiếp sau do nhân thiện nghiệp gieo ở hiện tại".

Ngược lại một gia đình giàu sang phú quý, chúng ta dụng tâm hỷ với họ là đúng. Nhưng tương tự trên, khi tiếp xúc, chúng ta nhận ra rằng cái quả họ đang có là do ác nghiệp tạo nên, vậy nếu họ không gây thiện nghiệp ở hiện tại này thì liệu cái Vui của họ sẽ được bao lâu? Với cách nhìn Mật nghĩa ấy, trong tâm chúng ta sẽ lập tức hiện lên Tâm Bi và Tâm từ đối với họ. Tâm bi là vì thương xót và đau khổ khi nhìn thấy tương lai mà họ sẽ gánh do cái quả của quá khứ và hiện tại hình thành.

Tâm từ là hiểu và bao dung được cái quả họ có hiện từ do ác nghiệp quá khứ mà ra, mà tại sao do ác nghiệp quá khứ có, vì họ cũng muốn hạnh phúc nhanh trong hiện tại mà thôi. Tâm tốt lành nhưng hành động sai trái, thấy điều đó mà thương mà khởi tâm Từ. Thấy thương thề, chúng ta khuyên răn họ nên chuyên tâm từ đây mà hãy làm những thiện nghiệp, thiện căn, hướng đến Tam bảo, hãy cố gắng buông bỏ bớt những cái không tốt cho quả tương lai mà hãy hướng về những cái tốt cho quả tương lai. Làm được thế thì tức là cả ta và người cùng nhau hướng về Tâm xả.

Qua ví dụ trên, chúng ta thấy, khi nhìn kỹ vào mặt Mật Nghĩa, thì với một hiện tượng vui chưa chắc là Tâm hỷ và với một chúng tình đang khổ, chưa chắc là Tâm bi. Thấy một chúng sanh khổ chưa chắc là tương lai khổ và một chúng sanh sướng chưa chắc tương lai được an lạc nếu không biết quả hôm nay là thành Nhân trong quá khứ.

Tứ Vô lượng Tâm (Từ Bi Hỷ xả) được vận dụng linh hoạt theo cả mặt Hiển và mặt Mật tùy biến theo nhân duyên và theo ba thời như trên đã diễn bày. Và điều này hoàn tòan Khế cơ và Khế lý theo tinh thần của nhà Phật đã nói trên: tự lợi – lợi tha, hiển – mật đồng đẳng, lý – sự viên dung và cuối cùng: ngã nhân chúng sanh thọ giả như huyễn.

Phần 2: Vậy làm thế nào để vận dụng Tứ Vô Lượng Tâm (Từ Bi Hỷ Xả trong tu tập và trong cuộc sống?

Khi đã hiểu rõ được Từ Bi Hỷ Xả theo tinh thần trên, khi chúng ta dung trong Tu tập và trong cuộc sống, chúng ta nên theo tinh thần:

Từ Câu    Bi Dẫn    Hỷ Phược    Xả Đẳng

Vì sao lại như thế?

Đối với Tâm Từ: Chúng ta thể hiển Lòng Từ để câu dẫn Chúng Tình (= Chúng sanh hữu tình và vô tình) vào cái Duyên Khởi lành. Muốn chúng tình được tốt, được tương lai an lành thì nếu chúng ta không gieo Duyên lành thì sao họ có được quả lành?

Một chúng tình đã có lòng từ rồi thì họ không thể khởi ác, khởi tham, khởi sân và khởi si. Làm như vậy thì chúng ta cùng nhau đang giúp Chúng Tình chuyển hóa tam nghiệp và tinh tấn trong tu hành cũng như trong đời sống rồi. vậy thì tại sao chúng ta không bắt đầu như thế?

Đối với Tâm Bi: Chúng ta thể hiển Lòng Bi để Chúng Tình cảm nhận được sự đồng cảm, đồng hành đồng sự thì họ mới đồng ý cho chúng ta Dẫn họ ra khỏi nghèo, khỏi khổ, khỏi phiền muộn chứ. Bản thân con người hoặc một chúng tình đâu có dễ dàng chấp nhận đi chung với một người khác nếu người đó không là đồng hành hoặc đồng sự. Mà nếu không đi chung thì làm sao chúng ta dẫn họ ra được khỏi khó khăn phiền muộn chứ? Ra rồi không có nghĩa là sẽ không vô lại. Một chúng tình được giúp đỡ thoát ra khỏi phiền muộn thì lập tức dung ngay quả lành này mà gieo cho minh những duyên lành tiếp theo, nếu không việc quay lại là điều không biết trước. Do vậy, khi thể hiện tâm bi, chúng ta phải luôn luôn đồng hành đồng sự dẫn họ đi ….và chi khi đi đến con đường Giải thoát và Giác ngộ thì cơ duyên quay lai phiền muộn mới dứt. Khi đó Tâm bi không cần dẫn nữa.

Đối với Tâm Hỷ: Chúng ta thể hiện Lòng Vui ra bên ngoài để chúng tình được vui theo. Tâm hỷ cũng có sức loan tỏa của nó, khi lực càng lớn thì môi trường / hoàn cảnh xung quanh cũng bị tác động tương ứng. Chúng ta vui và niềm vui của chúng ta quá lớn thì mọi người xung quanh cũng được vui lây. Chúng ta vui mà niềm vui của chúng ta không những quá lớn mà còn có điểm chung với mục đích lớn lao của mọi người hơn thì sức ảnh hưởng niềm vui sẽ như thế nào? Và với tấm lòng hoan hỷ đi đến đâu làm mọi người được hoan hỷ theo thì đó không phải là lợi mình và cũng lợi cho người sao? Tinh thần ấy liệu sao gọi là không chánh pháp!

Đối với Tâm Xả: Chúng ta thể hiện lòng buông bỏ không phải vì lợi cho riêng bản thân chúng ta mà còn phải vì lợi của mọi Chúng tình xung quanh nữa như đã nói ở trên. Mà muốn mang cái lợi ích đến cho cả mình và người thì không thể phân biệt cao thấp, không thể cân đo đong đếm, lại càng không thể chấp trong và chấp ngoài. Vậy thì với tinh thần ấy, chúng ta Xả là vì sự Bình Đẳng lợi ích của cả trong cả ngoài, cả mình và người. Lợi ích đây muốn nói đến là những gì tốt đẹp, những gì tạo phước trí, những gì giảm bớt nghiệp, những gì thuận duyên, những gì giảm phiền não v.v…thì vì điều đó mà chúng ta xả và bình đẳng cùng nhận được.

Đó chính là tinh thần của nhà Phật khi vận dụng và tu tập Tứ Vô Lượng Tâm

Trực tuyến

Trang web hiện có:
26 khách & 0 thành viên trực tuyến

Mới nhất