Bài 6 - Các câu chuyện về Tâm Linh

Lời Mở Ðầu

 

Thưa các bạn.

Mục đích của tôi viết tập Cỏi Vô Hình nầy là để giúp các bạn đã có sẵn lòng tin ở Thiên cơ được nghe thêm một tiếng chuông.

Từ trước đến nay, chúng ta chỉ nghe được có một tiếng chuông Ðông Phương, chúng ta tin có Trời Phật, có Âm Dương, nhưng không có gì là bằng chứng cụ thể. Cũng gì không có bằng chứng cụ thể nên có một số người hoài nghi cho rằng đạo Phật chỉ là lý thuyết suông, và có khuynh hướng theo đa số người Tây Phương chỉ tin vào khoa học, tin vào những gì mắt thấy tai nghe, tin rằng ngoài cái đời vật chất nầy không có gì khác cả.

Nhưng gần đây có một số học-giả Tây Phương đã cố công tìm hiểu, họ đã biết được nhiều điều ở bên kia cửa tử, và đã viết ra nhiều sách, những sách ấy ta có thể tin là đứng đắn, không phải hồ đồ, vì với óc khoa học sẵn có, họ chỉ tin những gì mà họ không thể chối cãi được.

Ðây chỉ là một tiếng chuông thứ hai từ Tây Phương. Trong khi tìm hiểu sự thật huyền bí, được nghe thêm một tiếng chuông nữa là điều rất quý. Tuy nhiên không thể coi tiếng chuông nào là hơn, vì chúng ta là người phàm mắt thịt, có mắt cũng như đui, có tai cũng như điếc, ngoài những điều mắt thấy tai nghe không hiểu một điều gì khác, vậy nên không thể xét đoán tiếng chuông nào là đáng tin hơn. Ví dụ trong những sách của Tây Phương mà tôi đã lược dịch ra đây, có đoạn nói rằng không có thiên đường không có địa ngục mà chỉ có lương tâm của chúng ta, xem vậy biết vậy, nhưng không phải vì thế mà coi hai cuốn Thiên Ðường Du Ký và Ðịa Ngục Du Ký là vô giá trị. Chúng ta chỉ chú trọng đến những điểm tương đồng là có Thượng Ðế, có Âm Dương có linh hồn bất diệt, có luân hồi nhân quả, đó là những điểm quan trọng nhất, những điểm ấy khiến cho chúng ta càng vững lòng tin vào luật Tạo Hóa, luật Tạo Hóa là lòng Từ Bi, là Tình Thương, là lòng Vị Tha. Không thể tu lấy riêng mình mà mong đắc đạo, sách cũng nhấn mạnh không bao giờ có chuyện đó, phải coi người khác cũng như ta, phải giúp người khác cùng tiến với ta, và trước hết phải làm tròn phận sự của ta.

Tin nhiều hay tin ít là tùy tâm mỗi người, tôi không dám có tham vọng gây lòng tin cho ai cả. Tôi đọc sách thấy điều hay thì tôi kể lại để các bạn cùng chia sẻ với tôi, kể bằng lời e còn thiếu sót nên phải viết ra giấy. Nếu bạn nào xem mà cũng cho là hay, thì ấy là tôi đã làm được một chút việc có ích, và tiết kiệm được thì giờ quý báu của bạn ấy không phải mất công đọc sách nguyên văn. Nhất là đối với những ai không có đọc được sách Mỹ sách Pháp. Tôi chỉ mong đem chút tài mọn giúp các bạn

 

Tựa

 

Người Việt Nam chúng ta, một mặt thấm nhuần tư tưởng Nho giáo và Phật giáo trãi qua nhiều thế-hệ, mặt khác lại được thấy những chuyện gọi hồn và nhất là đánh đồng thiếp thịnh hành từ xưa cho đến đầu thế kỷ nầy do những thầy phù thủy cao tay dẫn hồn người sống đi xuống âm phủ rồi lại trở về, nên rất tin rằng có âm có dương, rằng sau khi lìa bỏ xác thân ở dương-thế, linh hồn vẫn còn tồn tại ở cõi âm, và sau một thời gian linh hồn ấy sẽ lại đầu thai sang một xác thân khác theo luật luân hồi nhân quả. Do đó những chuyện về thế giới bên kia "sau khi chết" đối với chúng ta chẳng có gì lạ.

Người Âu Mỹ từ trước đến nay không tin những sự huyền bí, không tin rằng có cõi âm có luân hồi nhân quả, phần vì đại đa số theo Thiên Chúa Giáo mà trong Thánh kinh không nói đến luân hồi nhân quả, phần vì ảnh hưởng của khoa học càng ngày càng phát triển mạnh. Trên thực tế, khoa học đã giúp cho loài người tiến những bước dài. Vì thế họ chỉ tin những gì mắt thấy tai nghe, hoặc chứng nghiệm được, còn những gì không chứng minh được bằng khoa học đều bị coi là huyền hoặc, là dị đoan, và bị bác bỏ.

Gần đây nhiều nhà học giả đã để ý đến những hiện tượng mà họ không thể nói là không có thật, nhưng khoa học không giải thích nổi. Những nhà học giả đó đã cố tìm hiểu, và với thành kiến khoa học mà họ sẵn có, chỉ tin những gì mà họ không thể chối cãi được. Những điều ghi chép và nhận xét trong những sách của họ viết ra, chúng ta có thể tin là đứng đắn, không phải hồ đồ. Tôi đã được đọc một ít cuốn sách của Tây Phương về huyền bí, về cỏi vô hình, trong số ấy có bốn cuốn đáng để ý hơn cả:

 

1- Ðời Sống Sau Ðời Nầy (life after life)

Một nhóm bác sĩ nhận thấy có những bệnh nhân được coi là đã chết, nhưng sau sống lại, kể lại những gì họ đã thấy trong khi chết, hoàn toàn đúng với những hành động và lời nói của những người vây quanh xác chết.

 

2-Sau Khi Chết (Après la Mort)


Một số học giả dùng khoa thôi-miên liên lạc với những vong hồn và hỏi được nhiều điều trong cõi vô hình.

 

3-Thế Giới Bên Kia ( A world beyond)

Một nhóm chuyên nghiên cứu về thế giới vô hình, đã liên lạc giữa người sống và người chết bằng phương pháp mà ta gọi là cầu cơ và đã biết được nhiều bí mật của Tạo-Hóa.

 

4-Thế Giới Khi Xưa (The world before)

Cũng bằng phương pháp nói trên, tác giả đã được những linh hồn cao siêu cho biết về thế giới từ khi trái đất thành hình và bắt đầu có loài người cho đến ngày nay.

Ðại khái có mấy điều quan trọng nhất là:

* Linh hồn của mỗi chúng ta đều bất diệt, có nhiều xác thân nối tiếp nhau, mỗi xác thân là một đời vật chất.

* Mỗi linh hồn là một phần của Thượng Ðế tách ra. Mỗi chúng ta đều được xuống thế gian nầy để học hỏi và tiến hóa, nhưng đồng thời bị vật chất cám dỗ mà tạo nên nghiệp, nên vì luật nhân quả phải chịu luân hồi để trả nợ về tội lỗi. Khi nào được toàn thiện sẽ lại trở về hòa đồng với Thượng Ðế. Ðó là mục tiêu tối hậu của linh hồn.

* Thượng Ðế không phải là một ông vua trên trời, ngồi chót -vót trên ngai vàng ngai ngọc, có các vị tiên hay thiên thần bên dưới như một ông vua ở thế gian, Nhưng là một mảnh lực vô hình vô biên bao trùm cả vũ trụ, ngự trị khắp nơi.

* Không có thiên đường, không có địa ngục, không có Thiên đình hay Diêm vương xử tội, mà chính mình xử tội mình. Sau khi lìa khỏi thân xác thịt, linh hồn rất sáng suốt, thấy rõ những điều hay điều dở mình đã làm. Ðể đền bù những tội lỗi đã gây nên mình sẽ phải đầu thai trở lại và chịu đau khổ, và cũng là để tu để tiến, tiến càng cao thì càng gần với Thượng Ðế.

Sau đây tôi nói chi tiết hơn về bốn cuốn sách đó.

 

1. Ðời Sống Sau Ðời Nầy
(Life After life)


Tác giả: Bác sĩ Raymond A. Moody Jr., Bantam Brick

Theo sách thì bác sĩ Moody là một trong số những bác sĩ muốn tìm hiểu những gì xảy ra sau khi chết. Riêng bác sĩ Moody đã phỏng vấn 150 người chết rồi sống lại, tường thuật những gì họ đã thấy trong khi chết. Ðại khái như sau:

Người sắp chết, đến phút cuối cùng nghe thấy bác sĩ tuyên bố rằng mình đã chết. Y bắt đầu nghe thấy một tiếng ồn-ào khó chịu, như tiếng chuông reo hoặc tiếng vo vo lớn, đồng thời thấy mình bị lưu động rất nhanh qua một đường hầm dài đen tối. Sau đó y bỗng thấy mình ở ngoài xác thân, nhưng vẫn còn ở ngay quanh đó, trông thấy rõ xác thân mình như một người ngoài đứng xem. Y thấy những người vây quanh cố làm cho xác thân hồi tỉnh. Lúc đó y ở trong tình trạng kinh động mạnh.

Một lát sau, y định thần lại và hơi quen với tình trạng lạ-lùng nầy. Y nhận thấy rằng y vẫn còn có một thân hình, nhưng bản chất khác hẳn và có khả năng khác hẳn cái thân hình y để lại. Rồi có nhiều sự xảy đến, có những người khác đến gặp y và giúp y. Y thoáng nhận thấy linh hồn những thân nhân và bạn hữu đã chết trước rồi, và thấy một linh hồn rất dể thương thuộc một loại mà y chưa bao giờ gặp._ Một hình ánh sáng_ hiện ra trước mặt y. Hình ánh sáng đó hỏi y nhưng không bằng lời nói, bảo y kiểm điểm lại đời sống của y, và giúp y bằng cách hiện ra cho y thấy hoạt cảnh những diễn biến quan trọng trong đời sống của y. Có lúc y thấy mình đến gần tựa như hàng rào hoặc địa giới, tượng trưng giới hạn giữa đời sống trần gian và đời sống bên kia. Thế nhưng y cảm thấy rằng y phải quay trở về trần, vì ngày giờ hết của y chưa đến. Lúc ấy y muốn cưỡng lại, vì bây giờ y đã được biết mùi đời sống bên kia rồi, y không muốn trở về nữa. Những cảm giác mừng vui, yêu thương và yên tĩnh đã tràn ngập y. Tuy nhiên, mặc dầu thái độ của y, y vẫn phải nhập vào xác thân y và sống lại.

Về sau, y muốn kể chuyện với người khác, nhưng y cảm thấy khó khăn. Trước hết y không tìm được lời nói để diễn tả những gì y đã trông thấy hoặc cảm thấy. Rồi y lại bị người ta chế riễu nên y không nói nữa. Tuy nhiên, kinh nghiệm ấy đã ảnh hưởng mạnh vào đời sống của y, nhất là quan niệm của y về sự chết đối với sự sống.

Ðoạn diễn tả trên đây chỉ là một "bài mẫu" gom góp những tài liệu trong nhiều trường hợp chứ không phải là ai cũng cảm thấy như thế. Có nhiều người nói: "Tôi không biết làm sao kể chuyện lại vì tôi không biết lấy lời nào để nói lên được.".

Tác giả đã phân tách các cảm giác của người trong cuộc kể lại và xếp ra từng loại. Mỗi loại tôi chỉ kể ra một vài trường hợp.

 

Nghe thấy người sống nói.

Một bà kể lại: Bác sĩ chiếu điện chích thuốc cho tôi, rồi tôi thấy ông ấy chạy ra điện thoại nói: "Bác sĩ Jame ơi, tôi đã giết bệnh nhân của ông rồi". Nhưng tôi biết rằng tôi chưa chết, tôi cố cử động và nói cho họ biết, nhưng không được. Khi họ đương cứu sống tôi, tôi nghe thấy họ nói đã chích cho tôi bao nhiêu c.c. thuốc gì, nhưng tôi không cảm thấy kim đâm vào thịt

 

Cảm giác yên tĩnh.

Một bà chết về bệnh tim khi tỉnh lại nói: Tôi bắt đầu thấy một cảm giác sung sướng kỳ lạ nhất, là không còn cảm thấy gì ở thế gian nữa, ngoài cảm giác yên tĩnh, thoải mái, nhẹ nhàng không còn đau đớn lo buồn gì nữa. Tôi tự nghĩ: yên lặng dễ chịu biết bao, hết bệnh rồi!

 

 

Tiếng ồn ào.

Một ông chết trong 20 phút kể lại: Một tiếng vo-vo rất khó chịu từ trong đầu tôi phát ra, tôi không bao giờ quên được nó

Một bà nói: khi mê đi, tôi nghe một tiếng to tựa như chuông reo hay vo-vo, tôi như ở trong một trạng thái quay cuồng.

 

Ðường hầm đen tối.

Nhiều danh từ khác nhau đã được dùng để tả hiện tượng nầy.

Một ông nói: 27 năm trước, tôi mới 9 tuổi, bị bệnh và chụp thuốc mê. Tôi nghe thấy tiếng vo-vo, rồi thấy mình lưu động qua một đường dài đen tối, tựa như ống cống. Về sau nghe nói rằng tim tôi đã ngừng đập.

Một ông khác nói: sau khi bị thuốc mê, tôi không thở nữa, tôi cảm thấy đi qua một khu đen tối, tựa như đường hầm với tốc độ kinh khủng.

Một ông nữa. Tim ngừng đập sau một tai nạn xe cộ: Tôi cảm thấy lưu động qua một thung lũng sâu và đen tối như mực.

Một bà bị bệnh sưng màng ruột nói: Bác sĩ gọi anh chị tôi vào cho tôi gặp lần cuối, rồi y tá chích thuốc cho tôi. Tôi thấy mọi vật trong bệnh viện dần dần xa tôi. Tôi chui vào một lối đi nhỏ hẹp hình như chỉ vừa đủ cho tôi chui lọt, rồi tôi tụt xuống, tụt xuống, tụt xuống mãi.

 

Lìa khỏi xát thân (ta gọi là xuất hồn)

Một bà kể lại: Tôi bị đau tim, nằm trong bệnh viện. Ngực tôi đau lắm, tôi bấm chuông gọi y tá, rồi tôi hết thở. Tim tôi ngừng đập. Tôi thấy tôi tụt ra khỏi giường xuống sàn, rồi tôi đứng lên. Có nhiều y tá chạy đến, chừng 10, 12 người, họ gọi bác sĩ và tôi thấy bác sĩ đi vào phòng. Tôi bay bổng lên cao ngang qua đèn trên trần mà tôi trông thấy rõ, rồi ngừng lại, lơ lửng gần trần nhìn xuống. Có cảm tưởng như tôi chỉ là một tờ giấy bị thổi lên trên không. Từ trên cao tôi nhìn xuống xem họ cố gắng làm cho tôi hồi tỉnh. Thân hình tôi nằm dưới kia, chân tay duỗi thẳng rõ ràng, mọi người vây quanh. Một y tá nói: "trời ơi bà ấy đi rồi!" trong khi đó một y tá khác thổi hơi vào mồm tôi, tôi thấy rõ sau gáy cô ấy cắt tóc ngắn. Họ đập vào ngực tôi, xoa bốp chân tay tôi. Tôi tự nghĩ: tại sao họ phải cực nhọc như thế, tôi vẫn khỏe mạnh đây mà !

Một anh chàng tuổi trẻ kể lại: Tôi lái xe đưa bạn tôi về, đến một ngã tư nhìn hai bên không thấy gì tôi đi tới, bỗng nghe bạn tôi hét lên, đồng thời thấy đèn của một xe khác phóng tới rồi nghe một tiếng "Rầm" kinh khủng. Ngay lúc đó tôi hình như đi qua một khu đen tối nhanh lắm, rồi thấy tôi lơ lửng trên cao cách xe vài thước. Tôi còn nghe tiếng đụng xe vang dội ra xa. Thấy nhiều người chạy đến vây quanh xe, và bạn tôi chui ra khỏi xe. Tôi thấy thân thể tôi bị kẹt lại trong xe, họ xúm lại kéo ra, hai chân gãy nát máu tuôn khắp nơi.

Lại một người nói: các bác sĩ và y tá đập vào thân tôi và cố chích thuốc cho tôi hồi lại. Tôi bảo họ: để mặc tôi, đừng đập vào tôi nữa, nhưng họ không nghe gì cả. Tôi đập vào tay họ, vô ích, kéo tay họ cũng không được. Tôi đánh mạnh vào tay họ, nhưng tay họ không nhúc-nhích. Mọi người đi tới đi lui. Tôi trông thấy họ và cũng cùng ở với họ trong hành lang hẹp, nhưng họ đi họ cứ nhìn thẳng mà không để ý đến tôi.

Một người khác bị tai nạn xe kể lại: Trên quãng đường cong tôi không điều khiển được xe nữa, xe văng lên trên không. Tôi còn nhớ trông thấy trời xanh, rồi thấy xe nằm dưới rãnh. Tôi biết rằng tôi bị tai nạn xe. Nhưng bỗng dưng tôi không cảm thấy thân hình tôi nữa. Tôi chui ra khỏi thân tôi qua đầu tôi, không thấy đau đớn gì cả, như là vọt lên. Không còn có cảm giác vật chất, thấy thân không cứng rắn, nho nhỏ, hơi tròn, tựa như một đám mây. Khi nó ra khỏi thân hình, tựa hồ như phần to ra trước, phần nhỏ ra sau, ra rất nhẹ nhàng, như không có trọng lượng. Nó không phải là vật chất nếu dùng lời nói thông thường thì có thể diễn tả bằng nhiều cách, nhưng không cách nào đúng cả, vì không có lời nào tả được đúng.

 

Gặp những người khác.

Một bà lúc sinh sản khó khăn kể lại: Tôi mất nhiều máu bác sĩ hết hy vọng, bảo thân nhân của tôi rằng tôi xắp chết. Nhưng tôi vẫn sáng suốt và trông thấy trên trần nhà lơ-lửng nhiều người là những người quen biết đã chết rồi. Tôi nhận ra bà tôi và nhiều họ hàng bạn hữu. Tôi cảm thấy rằng họ tới giúp tôi và dẫn dắt tôi, hình như tôi về nhà và họ đến chào đón tôi. Thật là một cảnh vui mừng.

Một ông kể rằng: khi tôi ra khỏi xác thân, tôi cảm thấy đứng gần tôi một người bạn mới bị giết mấy tuần trước, nhưng không trông rõ như xác thân bằng xương thịt. Tôi hỏi y: "cái gì đã xảy ra, tôi đi đâu, có phải tôi đã chết không?" Nhưng y không nói một lời. Rồi đến khi tôi nghe bác sĩ nói: " nó sắp sống lại" thì y đi mất.

 

Hình ánh sáng.

Rất nhiều người thấy một hình ánh sáng, sáng kỳ diệu không từng thấy, nhưng mắt không bị chói lóa mà vẫn trông rõ mọi vật chung quanh. Nó là một hình, một hình ánh sáng, có tính cách là một người. Tình thương nồng nàn mà hình ấy tỏa ra không thể diễn tả được, người trong cuộc cảm thấy bị bao bọc như có từ lực thu hút vào không cưỡng lại được, mà vẫn cảm thấy hoàn toàn dễ chịu.

Rồi hình ánh sáng giao cảm với người mới chết không phải bằng lời nói hay tiếng động gì cả, mà chỉ là ý nghĩ chuyển qua, hiểu rất rõ ràng, không thể lầm được. Sự trao đổi ý nghĩ không phải bằng tiếng mẹ đẻ của người chết, nhưng người nầy tự nhiên hiểu được hoàn toàn, tuy nhiên khi tỉnh lại không thể nào thuật lại bằng lời mà y thường nói. Ðại ý câu hỏi là: "Anh đã sửa soạn chết chưa? Anh đã sẵn sàng chết chưa? Anh cho tôi biết anh đã làm những gì trong đời anh. Anh đã làm đầy đủ chưa?" Mọi người nhấn mạnh rằng câu hỏi ấy không hàm ý buộc tội, mà họ vẫn cảm thấy tình yêu thương chan-chứa. Câu hỏi ấy chỉ khiến cho họ hồi tưởng lại cuộc đời đã qua.

Một người kể lại khi gặp hình ánh sáng trong trắng đẹp rực rỡ _ mà thực sự không thấy có hình người _ Tỏa ra tình thương và sự hiểu biết hoàn toàn, y có ý hỏi: " Anh có thương tôi không?" thì cảm thấy trả lời: "Nếu anh thương tôi thì anh hãy trở về làm nốt công việc của anh trên đời."

Một người nữa kể: Tôi biết tôi sắp chết, nhưng không làm sao được, vì không ai nghe thấy tôi cả. Tôi ở ngoài xác thân tôi và thấy rõ thân tôi nằm trên bàn mổ. Hồn tôi xuất rồi! Tôi cảm thấy buồn, nhưng ngay lúc đó có một ánh sáng rực rỡ đi tới, tôi cảm thấy ấm áp. Ánh sáng trắng, hơi vàng, sáng lắm không tả được. Hình như bao trùm tất cả, nhưng tôi vẫn trông thấy rõ: phòng mổ, bác sĩ, y tá, mọi vật. Ánh sáng ấy hình như hỏi tôi rằng tôi đã sẵn sàng chết chưa. Rồi tôi lại cảm thấy ý nghĩ rằng tôi chưa sẵn sàng. Tình thương do ánh sáng tỏa ra không thể tưởng tượng không thể diễn tả.

 

Ôn lại việc xưa.

Rõ ràng là hình ánh sáng đã biết tường tận cả cuộc đời của người mới chết, nhưng hỏi thế là muốn cho y hồi tưởng lại quá khứ và cho y thấy hoạt cảnh ôn lại đời y. Ôn lại đây có nghĩa là khiến cho nhớ lại, nhưng không phải là nhớ lại như lúc thường. Một là hoạt cảnh hiện ra nhanh chóng phi thường. Hai là không như người trần nhớ lại theo thứ tự thời gian, đây là nhớ lại tất cả các việc cùng một lúc.

Tuy nhiên ai nấy đều nhận rằng mặc dù sự ôn lại diễn tiến nhanh chóng cực độ, nhưng hình ảnh bày ra trước mắt linh động và xác thực không thể tưởng tượng. Không những hình ảnh mà thôi, tất cả cảm giác cũng đều sống động lại. Hình ánh sáng có vẻ muốn nhấn mạnh vào hai điểm: Học yêu thương người khác và thâu lượm sự hiểu biết.

 

Sau đây là lời thuật lại của vài người trong cuộc.

Hình ánh sáng nói với tôi: "Anh cho tôi biết những gì anh đã làm trong đời anh " Tức thì những hoạt cảnh hiện ra, tôi thấy khi tôi còn nhỏ mỗi năm lớn lên cho đến ngày nay. Thật là kỳ lạ: Tất cả những việc đi chơi, đi học, buồn, vui, linh động như thật đủ cả ba chiều chứ không hai chiều như màn ảnh, có màu sắc, lúc nào cũng thấy rõ ràng là tôi. Hình ánh sáng luôn luôn nhấn mạnh vào sự quan trọng của tình thương, cố gắng giúp đở người khác. Nhưng không phải là bắt lỗi tôi khi tôi làm điều không phải, mà chỉ là để cho tôi thấy đó mà học hỏi, tôi cần tiếp tục học hỏi. Lạ thật, tôi ở đó tôi thấy những hoạt cảnh về quá khứ mà tôi cũng dự vào đó, vậy mà đi nhanh thế! Nhưng mà lại cũng đủ chậm để cho tôi nhận định được. Tất cả chỉ trong thời gian rất ngắn, hình như chưa đến năm phút, hay hơn nửa phút, tôi không thể nói chắc.

Một người lái xe vận tải nói: khi đương lái xe tôi buồn ngủ quá, nghe một tiếng rít kinh khủng, rồi nổ lớp xe bên phải, xe xoay ngang lại nổ lớp bên trái, xe lật nghiêng và trượt thẳng đến chiếc cầu. Tôi sợ quá biết rằng xe sẽ húc vào cầu. Trong thời gian xe trượt tôi bỗng nghĩ đến tất cả các việc đã làm, và trông thấy như thật. Ðầu tiên tôi thấy tôi theo cha tôi ra biển khi tôi hai tuổi, dần dần đến khi năm tuổi tôi đánh gãy đồ chơi, rồi tôi khóc khi bắt đầu đi học, thấy các việc mỗi năm cho đến khi đi làm. Tất cả hình ảnh đó thoáng qua rất nhanh chóng, rồi tôi thấy tôi đứng đó nhìn chiếc xe nát bấy mà tôi chẳng sao cả. Tôi tưởng tôi đã chết, chỉ là một hồn ma, tôi thử cấu véo vào mình. Chẳng hiểu tại sao tôi đã nhảy qua tấm kính vỡ tan. Khi tôi bình tĩnh trở lại, tôi nghĩ thật là kỳ lạ, tôi đã thấy những hình ảnh đó chỉ trong một giây, mà bây giờ tôi muốn nhớ lại phải mất 15 phút.

 

Ðường giới hạn.

Một số người kể lại họ đến gần đường giới hạn, người thì nói là một dòng nước, người nói một đám sương mù, hoặc một hàng rào, một cái cửa.

Một người kể: Tôi bị bệnh tim, khi tim ngừng đập, tôi thấy tôi ở trên một cánh đồng xanh đẹp, màu sắc khác hẳn mọi vật trên trần. Một ánh sáng đẹp bao phủ quanh tôi. Tôi nhìn thẳng trước mặt thấy một hàng rào. Tôi tiến đến hàng rào thấy một người ở bên kia cũng tiến đến như để gặp tôi. Tôi muốn đến gần người ấy nhưng cảm thấy bị kéo trở lại, không cưỡng được, rồi cũng thấy người ấy quay đi.

Một bà kể: Tôi mang thai được tám tháng, con đầu lòng. Bác sĩ bảo vì bệnh trạng của tôi, cần phải lấy thai ra. Tôi mất nhiều máu bác sĩ không cầm lại được. Tôi mê đi nghe tiếng vo-vo khó chịu. Rồi tôi thấy tôi ở trên một chiếc tàu nhỏ tiến sang bờ bên kia một con sông rộng. Xa xa trên bờ tôi trông thấy những người thân yêu đã chết, Cha tôi, mẹ tôi, chị tôi và người khác. Họ hình như vẫy tôi nhưng tôi nói: không , không tôi chưa sẵn sàng, tôi chưa muốn chết.

Ðiều rất lạ lùng là cùng trong khi ấy tôi vẫn trông thấy các bác sĩ và y tá săn sóc thân hình tôi, tôi như một người đứng xem. Tôi cố đến gần bác sĩ và nói: Tôi chưa chết nhưng chẳng ai nghe thấy cả. Tất cả các hình ảnh: bác sĩ, y tá, phòng bệnh, chiếc tàu, nước, bờ, lẫn lộn với nhau như là chập vào nhau. Sau cùng tàu vẫn đến bờ bên kia thì quay đầu trở lại. Lúc ấy tôi tỉnh.

Một người khác kể: tim tôi ngừng đập, tôi thấy quanh mình tôi đen tối, tôi biết tôi đã bỏ lại xác thân, tôi đã chết, tôi kêu trời cứu tôi. Tức thì tôi ra khỏi chỗ tối, qua chỗ ánh sáng xám nhạt, lưu động nhanh chóng, xa xa trước mặt thấy một đám sương mù màu xám. Tôi vọt lên. Bên kia đám sương mù, thấy có nhiều người hình dáng như người sống, và cũng thấy những hình tựa như những nhà, tất cả trong một bầu ánh sáng rất đẹp, khác ánh sáng trên trần. Trong khi tiến đến gần, tôi cảm thấy vui mừng lạ thường, một cảm giác không lời nào tả được. Nhưng tôi chưa được đi qua đám sương mù, vì tôi thấy cậu tôi ở bên kia, cậu tôi đã chết nhiều năm trước, bảo tôi: "về đi, công việc của cháu chưa xong cháu phải về". Tôi không muốn trở lại nhưng tôi bừng tĩnh lại, thấy ngực đau kinh khủng.

 

Trở về đời sống

Nhiều người lúc mới thoát khỏi xác muốn trở về, nhưng khi đã đi sâu ít nhiều vào phía bên kia, nhất là đi đã thấy hình ánh sáng, thì không muốn trở lại đời sống nữa, trừ những bà có con nhỏ cảm thấy có bổn phận phải về.

Một bà kể lại: Ðứng trước hình ánh sáng, tôi cảm thấy sung sướng lạ lùng, không muốn trở về nửa, nhưng tôi nhớ đến chồng và con tôi, tôi còn trách nhiệm tôi phải trở về.

Một bà khác nói: Tôi lơ lửng bên trên cái bàn, thấy rõ cả biết rằng tôi sắp chết , nhưng tôi lo cho các con tôi, tôi chưa đi được.

Một bà nữa nói: Bác sĩ đã bảo rằng tôi chết, nhưng tôi vẫn còn đây. Tôi cảm thấy sung sướng, không có gì là buồn cả. Khi tôi mở mắt, tôi thấy chị tôi và chồng tôi đứng bên, nước mắt còn chảy. Chắc rằng vì tình thương của chị tôi và chồng tôi mà tôi phải trở lại.

Một ông kể lại: Tôi đương lơ lửng trên trần, thấy họ vây quanh thân tôi. Khi họ truyền điện vào ngực tôi, thân tôi nẩy lên, tôi bỗng rớt xuống thân tôi như một cái bịch nặng, rồi tôi tỉnh lại.

Có người kể lại đã trở về qua cái đầu: Cái hình của tôi tựa như có một bên đầu to một bên đầu nhỏ. Khi tai nạn xảy ra và nó thoát ra khỏi thân tôi, hình như bên đầu to chui ra trước, và khi trở về thì bên đầu nhỏ chui vào trước, sau khi cái hình ấy lơ lửng bên trên đầu tôi.

Một người nữa kể: Tôi ở cách thân tôi mấy thước, thấy họ lôi thân thân tôi ra khỏi xe, rồi hình như vút một cái tôi bị lôi cuốn vào một khu nhỏ hẹp như là một cái ống đen tối, trở về thân tôi, khi tôi bị hút vào như thế, hình như sức hút từ đằng đầu và tôi chui vào đầu tôi. Nhanh chóng lắm không kịp suy nghĩ. Sau khi trở về cảm giác vẫn còn tồn tại trong một thời gian.

Người thì nói: Tôi khóc cả tuần, tôi không muốn trở về. Người khác nói: Trong nhiều ngày sau. Tôi vẫn còn cảm thấy thích thú kỳ lạ. Một người nữa nói: Không thể tả được, tôi không bao giờ quên cảm giác đó.

 

 

 

 

Kể lại cho người khác nghe.

Một người kể: Khi tôi ra ngoài xác thân tôi, tôi ngạc nhiên vô cùng, không thể hiểu được, nhưng thật là rõ ràng, tôi trông thấy xác thân tôi nằm kia, không xa.

Một người khác quả quyết: Không phải là ảo vọng. Xưa tôi đã có lần có ảo vọng trong bệnh viện vì codcine, nhưng bây giờ không phải ảo vọng tí nào.

Tuy rằng những người kể lại quả quyết rằng những gì đã thấy là sự thật chứ không phải ảo-vọng, nhưng khi kể lại cho người khác nghe, thì những người nầy tỏ ra ít thông cảm và hiểu biết, vì họ cho rằng sau cuộc thử thách với cái chết, tinh thần đã bị rối loạn. Cho nên phần nhiều đã giữ yên lặng, chỉ kể cho vài người rất thân.

Có ông nói: Người ta bảo tôi là loạn trí. Người khác nói: Ngoài gia đình tôi, tôi không nói với ai khác, họ cho là bịa, là tưởng tượng.

Một lẽ nữa khiến nhiều người không nói ra, cũng gì họ không thể diễn tả bằng lời nói thường.

 

Quan niệm mới về cái chết.

Những người đã kinh nghiệm qua cái chết, nhận thấy rằng chết không phải là hết, chết không đáng sợ mà là đáng mừng, chết không phải là khổ mà lại là sung sướng, có cảm tưởng như là về nhà. Tuy nhiên không ai nghĩ đến đi tìm cái chết, mà có quan niệm phải làm tròn phận sự ở đời trước khi chết.

Không một ai nói đến những điều mà thế gian tưởng tượng, như đường bằng vàng, cửa bằng ngọc, thiên thần hoặc là địa ngục có lửa cháy, có quỷ sứ tay cầm mũi xiên.

Cũng không thấy có sự thưởng công và phạt tội. Hoạt cảnh diễn ra trước mắt về cuộc đời đã qua như một cuốn phim, chỉ là để học hỏi, để cải thiện lầm lỗi, để linh hồn tiến hóa qua tình thương và hiểu biết sự tiến hóa ấy không bị ngừng vì cái chết.

 

Xác nhận.

Nhiều bác sĩ đã xác nhận rằng những bệnh nhân hồi tỉnh đã kể lại những gì họ đã thấy trong khi họ bất tỉnh, đúng với những hành động và lời nói của bác sĩ và y tá trong lúc cố gắng cứu sống họ lại.

Một thiếu nữ đã nhắc lại lời nói của người chị ở một phòng khác trong bệnh viện, vừa khóc vừa nói: "Kathy ơi, em đừng chết, em đừng chết". Người chị rất ngạc nhiên.

Một người sau khi tỉnh lại đã kể cho cha y nghe, sau khi tai nạn xảy ra, ai đã đem xác y ra khỏi nhà, đem bằng cách nào người ấy mặt áo màu gì, và những người chung quanh nói những gì. Người cha nhận là đúng cả.

Một người nữa kể: Tôi bị bệnh phổi nặng, nằm trong bệnh viện. Tôi thiêm thiếp ngủ, thấy một ánh sáng hiện ra ở góc phòng, bên dưới trần. Ánh sáng tròn không to lắm, độ ba bốn tấc. Lúc ấy tôi cảm thấy yên tỉnh và thoải mái hoàn toàn. Tôi thấy một cánh tay từ ánh sáng thò xuống, tôi dơ tay lên nắm lấy. Tôi được kéo lên khỏi xác thân, trông xuống vẫn thấy xác thân nằm trên giường, mà tôi thì bay trên trần.

Khi tôi ra khỏi xác thân, thì hình tôi cũng như hình ánh sáng. Không phải là một thân hình, tựa như một làn khói hoặc hơi nước, hơi tròn mà lại có tay, vì khi ánh sáng thò tay xuống thì tôi dơ tay lên nắm lấy. Nhưng tôi vẫn trông thấy tay tôi bất động bên cạnh thân tôi trên giường.

Bây giờ ánh sáng và tôi xuyên qua trần và tường từ trong phòng ra đến hành lang, lại xuyên qua sàn xuống tầng dưới. Bay xuyên qua như thế không khó gì cả. Tôi thấy rằng chúng tôi đã xuống đến phòng hồi sinh của bệnh viện. Trước kia tôi không hề biết phòng hồi sinh ở đâu, nay chúng tôi lơ lửng ở góc phòng gần trần, nhìn xuống các bác sĩ, y tá và giường chung quanh. Hình ánh sáng chỉ cho tôi một cái giường và bảo tôi: "họ sẽ đưa anh từ bàn mổ xuống giường nầy, nhưng anh sẽ không bao giờ thức dậy cả. Anh sẽ không biết gì sau khi vào phòng mổ cho đến khi tôi trở lại dẫn anh đi". (Câu nầy có nghĩa là tôi sẽ chết trên giường nầy và ánh sáng sẽ trở lại dẫn hồn tôi đi.) Lời nầy không phải là lời nói ra tiếng mà nghe được, chỉ là một cảm giác truyền đến cho tôi nhưng rất rõ ràng. Ðây cái giường nầy, cái giường ngay bên tay phải khi từ hành lang bước vào phòng, họ sẽ đưa tôi đến đây. Sau đó chúng tôi trở về phòng bệnh và tôi thấy thân tôi vẫn nằm y nguyên như trước, rồi tôi lại nhập vào thân tôi.

Chiều hôm trước ngày mổ, tôi rất lo lắng. Vợ tôi và tôi có một đứa cháu nuôi làm con, tôi lo cho nó. Tôi viết một lá thư cho vợ tôi và một cho cháu tôi, bày tỏ sự lo lắng, rồi tôi khóc. Tôi cảm thấy một hình đứng cạnh tôi, tưởng là một y tá nghe tôi khóc mà chạy đến, nhưng tôi không nghe thấy tiếng mở cửa. Tôi cảm thấy hình đấy, nhưng không thấy có ánh sáng, và ý nghĩ truyền sang tôi, hỏi: "Tại sao anh khóc? Tôi tưởng anh thích đi với tôi". Tôi nói: "Tôi muốn đi lắm, nhưng tôi lo cho cháu tôi, tôi lo vợ tôi không biết cách dạy nó. Tôi đã viết thư rồi, nhưng tôi nghĩ rằng chưa đủ, cần có mặt tôi." Tôi cảm thấy trả lời:" Vì anh nghĩ đến người khác, cầu xin cho người khác, không phải riêng cho anh, thì tôi sẽ cho anh được như ý muốn, anh sẽ sống cho đến khi cháu anh trưởng thành". Rồi hình ấy biến mất. Tôi không khóc nữa và xé bỏ thơ đi.

Sáng hôm sau cuộc giải phẫu rất lâu nhưng tốt đẹp. Khi tôi ngồi dậy được, nhìn quanh thì thấy tôi đã nằm đúng cái giường mà hình ánh sáng đã chỉ cho tôi.

Trên đây là kết quả những sự khảo sát của bác sĩ Moody theo lời kể lại của những người chết đi sống lại. Những người nầy đã bước qua cửa tử, nhưng mới gọi là đến ngõ của thế giới bên kia, nên chỉ kể lại được vài bước đầu, chứ chưa vượt qua được ranh giới, chưa đi sâu vào cõi vô hình.

Trong hai cuốn sau đây Sau Khi Chết và Thế Giới Bên Kia, các nhà học giả đã đi sâu hơn và đã biết được nhiều hơn về những điều huyền bí, mà chúng ta thường gọi là thiên cơ.

 

2. Sau Khi Chết (APRèS LA MORT)

 

Tác giả: Léon Denis Société Théosophique Adyar, 4 Square Rapp. Paris 7e

Từ lâu người ta đã nhận thấy rằng thế giới càng tiến trên đường vật chất thì càng xa tôn giáo, tín ngưỡng càng giảm, và lòng hoài nghi. Chủ nghĩa duy vật càng tăng, cho rằng đời người đến chết là hết, không biết còn đi tới đâu, tương lai mù mịt. Theo lời tác giả thì nhiều nhà học giả đã cố công tìm hiểu, và với một phương pháp mới "mà họ cũng gọi là khoa học, vì căn cứ vào những sự có thực" là khoa thôi-miên (magnétisme, hypnotisme), họ đã đi sâu vào bên kia cửa tử và biết được bí mật của Tạo-Hóa, những luật thiên nhiên, mà họ gọi là giáo lý huyền bí (la doctrine secréte)

Những điều họ đã nhận thấy được tóm tắt như sau đây:

Ðời sống chỉ là sự tiến triển, trong thời gian và không gian, còn tâm linh (esprit), nó là sự thật vĩnh cửu duy nhất. Như thế tôn giáo đích thực, tức là đúng nghĩa tôn giáo, phải đứng trên và bao gồm tất cả các tính ngưỡng, vì sự thật là cao hơn hết.

Thượng Ðế là cha chung tất cả, chính là cái nguồn của sự sống. Thượng Ðế là vô-cùng-tận mà không thể tượng hình, nghĩa là coi như tách ra khỏi thế giới, đứng riêng biệt ra ngoài. Ðiều tai hại của tín ngưỡng là tạo ra quan niệm một Thượng Ðế có hình dáng như người và đứng ngoài thế giới hữu hình. Theo quan niệm mới cao hơn, thì Thượng Ðế tự tại khắp nơi, hiện hữu trong tất cả mọi vật, là một đại thể bao gồm tất cả các thể vật.

Ðại thể tối thượng không đứng ra ngoài thế giới, mà cũng không ở trong thế giới. Ðó là trung tâm duy nhất ban bố và điều hòa tất cả các mối tương-quan, là nguyên tắc sự liên hệ và tình thương huynh đệ của tất cả vạn vật.

Vũ-trụ không phải đột nhiên từ hư-không tạo thành, theo như các tôn giáo, mà là một cơ thể vĩ đại và vĩnh viễn, vô thủy vô chung, bao giờ cũng có. Trong vũ trụ có nguyên tắc mảnh lực và động lực, lại có mục đích. Mọi vật biến hóa và tiến triển cho vòng sinh tử bất tận, nhưng không có gì tiêu diệt. Trong khi trên trời, có những mặt trời tối đi và tắt, những thế giới già cỗi tan biến, thì ở nơi khác, có những hệ thống mới được tạo thành, với những ngôi sao sáng rực, những thế giới nẩy sinh.

Công cuộc vĩ đại diển tiến qua thời gian vô tận và không gian vô biên, do sự chung sức của vạn vật liên hệ với nhau và lợi ích cho nhau. Một nguyên tắc bất di bất dịch ngự trị trên công cuộc đó, là sự duy nhất của Vũ-trụ, nó bao gồm và điều hòa tất cả các hoạt động riêng rẽ nhưng cùng một mục đích là sự toàn thiện.

Linh hồn không bao giờ tiêu diệt. Nó là nguyên tắc của đời sống, nguyên do của cảm giác. Nó là một sức mạnh vô hình, ngự trị trên phủ tạng chúng ta và điều hòa tất cả bộ phận trong người.

Mỗi đời sống của chúng ta trên thế gian là một giai đoạn của đời sống vĩnh cửu. Luật luân hồi đã được chứng minh trong giấc ngủ thôi-miên, những người bị thôi miên đã nói ra những sự việc ghi sâu trong tiềm thức họ trong những đời đã qua, mà trí nhớ của con người lúc tỉnh không đạt tới được.

Mục đích tối cao là sự toàn thiện, con đường đi tới đó là sự tiến hóa. Số phận mỗi người trong chúng ta điều như nhau, không có người hơn kẻ kém, duy có con đường đi là khác nhau, người đi nhanh kẻ đi chậm. Do đó, những linh hồn chỉ khác nhau về trình độ tiến hóa.

Không có thiên đường cũng không có địa ngục. Không có quan tòa nào buộc tội chúng ta, ngoài chính lương-tri của ta. Khi lương-tri thoát ly khỏi xác thân vật chất thì trở thành sáng suốt, và luật nhân quả là tuyệt đối, bất di bất dịch. Ðời sống hiện tại là cái kết quả của những đời trước, khi linh hồn chuyển sang một xác thân khác thì đem theo hậu quả của cái hành vi tốt hay xấu đã làm qua.

Nhưng linh hồn không phải là bị trói buộc mãi mãi vào trái đất tối tăm nầy. Khi đã tiến hóa, sẽ thăng lên những thế giới sáng hơn, rồi cứ như thế tiến mãi để đi đến hòa đồng với vũ trụ và thực hiện ý muốn của Thượng Ðế.

Mỗi linh hồn là một tàn lửa của lò Tạo Hóa, nó mang trong mình nó tất cả luật của thiên nhiên. Nó là một thế giới riêng biệt, có đủ các tiềm năng. Nó càng tiến tới trong sạch thì tiềm năng càng xuất hiện, rồi dần dần đạt tới mức độ tối cao.

Trong bước tiến, linh hồn phải phấn đấu, phải hy sinh, phải gian khổ. Gian khổ là cần thiết cho tiến hóa. Nó dạy cho chúng ta hiểu biết hơn, cho chúng ta biết đè nén những tham vọng, cho chúng ta biết yêu thương người khác. Tất cả đau khổ trên đời chung sức lại để đưa chúng ta đến chổ toàn thiện.

Xem đấy thì cái chết không đáng sợ, nó chỉ là một sự chuyển tiếp, một sự đổi mới, vì thực ra không có ai chết, mà là một sự thay đổi hình thức bên ngoài, mà nguyên tắc của sự sống là linh hồn vẫn tồn tại mãi mãi, không bao giờ mất. Nó giữ được tất cả bản năng của nó, và tất cả những đức tính nó đã bồi đắp được trải qua nhiều đời liên tiếp. Ðó là kho tàng quý giá mà chúng ta có thể đem theo để hữu ích cho ta trong đời sắp tới.

Trên đây là tóm lược những điều mà các học-giả đã nhận thấy nhờ phương pháp thôi-miên. Các học-giả bắt đầu để ý tìm hiểu các hiện tượng huyền bí từ hơn 100 năm: Hoa kỳ 1848, Anh 1869, Pháp 1887, rồi Ý, Tây-Ban-Nha. Ðại hội tâm linh thế giới năm 1889 và 1900 đã đồng thanh xác định sự tin tưởng vào những nguyên-tắc và sự việc như sau.

- Có Thượng Ðế, là sự sáng suốt tối thượng, là nguyên nhân của vạn vật.

- Trên nhiều thế-giới có đời sống.

- Linh hồn bất diệt, những đời sống của xác thân nối tiếp nhau trên địa cầu và nhiều tinh cầu khác trong không gian

- Sự giao tiếp bằng thôi-miên qua trung gian của con đồng (médium) với các tâm linh đã chứng tỏ rằng hồn người ta vẫn còn tồn tại.

- Tình trạng sướng hay khổ của đời sống thế gian tùy thuộc vào những hành vi quá khứ, đức tính và trình độ tiến hóa của linh hồn.

- Linh hồn tiến hóa vô cùng.

- Sự liên hệ và tình huynh đệ có luôn luôn trong vũ trụ.

Những con đồng làm trung gian để tiếp xúc với các tâm linh trong thế giới vô hình, là những người nhậy cảm, dễ cảm ứng với cõi vô hình. Thầy thôi-miên dùng quyền lực khiến cho hồn vía con đồng thoát ra khỏi xác, như thế một tâm linh, là một linh hồn đã thoát xác có thể điều khiển cơ thể con đồng và nhờ đó tiếp xúc được với trần gian. Có khi con đồng chỉ bị cánh tay dường như tê đi và bị một sức mạnh vô hình đưa đẩy viết ra thành chữ (như tại Việt Nam xưa kia vẫn có, là những người phụ bút Thánh, cầm bút bằng gỗ viết chữ lên mâm đồng).

Huyền-bí học bắt buộc phải có nhiều khôn ngoan và kiên nhẫn. Trong đám đông vô hình vây quanh chúng ta những linh hồn cao thượng thì ít, họ thường ở những nơi thanh nhẹ, chỉ xuất hiện khi nào cần giúp đở cho sự tăng tiến của chúng ta và chỉ giao tiếp với những người có tâm ý trong sạch. Còn đại đa số cũng như ở cỏi trần, là những linh hồn thấp kém, còn thiết tha đến vật chất, nên quanh quẩn gần đám người trong đời sống thể xác. Họ ảnh hưởng đến những người tâm hồn yếu ớt, có khi thúc đẩy người nầy làm những sự dại-dột. Cho nên cần phải rất dè-dặt trong việc tiếp xúc với thế giới vô hình.

Các nhà học giả đã nhận thấy rằng mỗi người chúng ta đều có ba phần:

1- Xác thân, là cái vỏ vật chất tạm thời, bỏ lại khi chết như một cái áo cũ rách.

2- Vía (périsprit), là cái vỏ dịch thể, mắt phàm không thấy được, nó theo linh hồn trên đường tiến hóa và cũng thanh lọc như hồn. Nó là một thể thanh nhẹ như éther, có hình dáng của thể xác bao bọc lấy linh hồn, nó như là sợi dây liên lạc giữa xác với hồn. Thể xác của ta (theo Phật học là thân tứ đại: đất, nước, lửa, gió) luôn luôn đổi mới do các chất đem vào cơ-thể và bài tiết ra. Nhờ có vía ta mới giữ được tính chất vững bền, từ trẻ đến già, xác thân có thay đổi mà ta vẫn là ta, nó tựa như cái khuôn mà thể xác đóng vào.

3- Linh hồn, là tính chất thông minh, trung tâm sức mạnh nguồn gốc của lương-tri và bản tính.

Ba phần ấy: vật chất, dịch thể và thông minh, hợp lại thành đời sống, là căn bản tạo nên vũ trụ. Mỗi người là một tiểu vũ-trụ, cũng đủ khả năng và định luật của đại vũ-trụ. Vậy nếu chúng ta hiểu hoàn toàn được chính mình, thì cũng hiểu được những luật cao cả của vũ-trụ. Những nhà học giả đã cố tìm hiểu nhưng vẫn chưa hiểu được hoàn toàn con người.

Linh hồn thoát ra khỏi thể xác vật chất và khoác cái vỏ thanh nhẹ, đó là tâm linh (esprit), tính chất dịch thể, hình dáng người nhưng không lệ thuộc vào những sự câu thúc trần gian, không trông thấy được, không đụng chạm được. Tâm linh là một người đã lìa khỏi xác thịt và đi vào không gian, rồi sẽ lại sinh ra ở một đời vật chất khác, bắt đầu lại cuộc tranh đấu để sinh tồn, cuộc tranh đấu cần thiết cho sự tiến hóa.

Những điều trình bày, theo lời tác giả, không phải là do sự tưởng tượng hoặc suy luận hoặc đoán phỏng, mà chính là do những phiên tiếp xúc rất nhiều với các tâm linh.

Sau đây là những trạng thái từ khi bước qua cửa tử.

Những cảm giác trước và ngay sau khi tắt nghỉ rất là phức tạp và tùy theo tính tình, đức hạnh và trình độ của tâm linh. Cảm giác càng nặng nề và sự lìa bỏ càng dai-dẳng, khi những sợi dây ràng buộc vía với xác thân càng mạnh và càng nhiều. Tức là những người còn luyến tiếc đời nhiều, từ trước chỉ biết hưởng thụ vật chất, và những người tội lỗi thấm nhuần nhiều trược khí. Nhiều người còn tưởng vẫn tiếp tục đời sống xác thân rất lâu sau khi chết, vẫn giữ thói quen cũ và cảm giác như khi còn sống. Cũng có những tâm linh thấp kém, thấy mình ở trong đêm tối dày đặc, hoàn toàn cô đơn, sợ hãi vô cùng. Những tội phạm luôn luôn bị dày vò bởi hình ảnh những nạn nhân của họ.Những người thiếu đức tin, cho rằng chết là hết đến giờ lâm chung rất là sợ hãi, cố bám một cách tuyệt vọng vào sự sống nó lìa xa dần, họ tưởng như là bị rơi vào vực thẳm.

Còn những người đã làm xong phận sự, đã phấn đấu và gian khổ nhiều, lòng không còn tha thiết đến trần tục và tin tưởng ở tương lai, thì cái chết là giải thoát, sự lìa bỏ rất nhanh chóng nhẹ nhàng như một giấc ngủ êm-ái, tiếp theo là bừng tỉnh khoan khoái. Dần dần một ánh sáng tràn ngập, không chói như ánh sáng mặt trời, mà là ánh sáng dịu-dàng tràn lan khắp cả, thắm nhuần vào tâm linh khiến cho có cảm giác vui mừng sung sướng. Rồi tách ra khỏi những người khóc lóc quanh xác chết, thấy mình bay bổng lên cao, gặp những người thân thuộc xưa kia đến chào đón. Từ đấy tâm linh sẽ bay lên những tầng trên tùy theo trình độ thanh khiết. Lo âu đã hết, hoan lạc bắt đầu.

Ða số là những người không có tội nặng nhưng cũng không có đức cao lúc đầu ở trong tình trạng sợ hãi, lại vẫn còn đau khổ và khóc lóc với những người thân trong đời đã qua. Lâu dần những tâm linh khác đến khuyên nhủ, khiến cho trút bỏ những dây ràng buộc với trần gian và thăng lên nơi sáng sủa hơn.

Thường thường hồn lìa xác bớt đau khổ hơn sau một thời gian dài bệnh hoạn. Những cái chết đột ngột, mạnh bạo, xẩy ra trong khi cơ thể đương đầy sinh lực, làm cho hồn đau đớn như bị xé ra và ở trong tình trạng động loạn kéo dài. Những người tự sát có những cảm giác khủng khiếp, trong nhiều năm họ còn cảm thấy nỗi thống khổ trong giờ chót, và thất vọng sợ hãi khi nhận ra rằng họ chỉ đổi khổ não nọ lấy khổ não kia gay gắt hơn nhiều.

Những linh hồn được xếp đặt trong không gian theo một định luật rất đơn giản. Vía càng thanh nhẹ thì khi lìa khỏi xác thân càng nhanh chóng và sẽ bay lên tầng càng cao, nơi có những vía khác cũng thanh nhẹ như mình.. Có thể so sánh những tâm linh trên các tầng trời như những quả bóng thổi phồng bằng chất khí nặng nhẹ khác nhau, bay lên độ cao khác nhau. Tâm linh không phải ở yên một chỗ, tự do di chuyển và có thể tiến cao hơn được. Còn những tâm linh nặng trược thì phải ở những tầng thấp kém.

Như thế mỗi tâm linh tự xét thưởng phạt lấy mình, là quan tòa của chính mình. Khi đã lìa khỏi cái vỏ vật chất, thì tự nhiên sáng suốt, kiểm điểm lại hành vi của mình, cân nhắc việc thiện việc ác, đó là giờ phút cực kỳ đau khổ. Trình độ thanh khiết, vị trí trong không gian, là kết quả những tiến bộ và quyết định phẩm giá của tâm linh. Ðó là bản án không thể sai lầm, không thể cưỡng lại. Không có tòa án,không có xét xử, chỉ là cái luật bất di bất dịch, tự động thi hành. Tất cả những hành vi và ý nghĩ đều phản chiếu vào một tấm gương và tự động ghi khắc vào cái võ dịch thể của chúng ta như là một cuốn sổ. Trong thời sống thì cuốn sổ ấy đóng vì thân xác vật chất nặng trược, nhưng khi chết thì sổ ấy dần dần mở ra.

Vậy nên tâm linh khi thoát xác, mang trong mình nó thiên đường hoặc địa ngục. Kẻ làm điều ác, tưởng rằng không ai biết việc mình làm, nhưng lúc nầy bao nhiêu điều ác đều bày lộ ra. Người sống còn có việc làm, việc học, giấc ngủ, làm cho khuây khỏa, người chết không còn những ưu điểm ấy nữa, hình ảnh quá khứ luôn luôn bày ra trước mặt. Lòng ăn-năn cay đắng không ngừng khiến cho những tâm linh ấy mong sớm trở lại thế gian để chịu đau khổ để chuộc lại quá khứ.

Tâm linh tiến hóa cao có một đời sống rất hoạt động, song không mệt nhọc. Không có vấn đề không gian, ý muốn đến đâu là đến tức thì. Những tâm linh ấy rất thanh nhẹ, đến độ những tâm linh thấp kém không thể trông thấy. Trông, nghe, cảm không còn phải bằng bộ phận vật chất như chúng ta, nhưng trực tiếp vì thế họ sáng suốt hơn chúng ta nhiều.

Tâm linh tiến hóa cao không còn nhu cầu vật chất, cũng không còn phiền não. Trái lại tâm linh thấp vẫn còn mang theo những thói quen, nhu cầu, vẫn thiết tha vật chất, vì không lên cao được, họ chia xẻ cuộc đời với người sống, lẫn lộn vào công việc và thú vui của những người nầy. Những tham vọng, thèm thuồng, luôn luôn thức tỉnh, càng bị kích thích vì tiếp xúc với người sống mà không thỏa mãn được, đau khổ càng nhiều.

Linh hồn đạo đức, sau khi đã thắng được tham vọng, đã lìa bỏ xác thân tàn phế, cái xác thân đã từng quá đau khổ lẫn vinh quang, nay bay lên không gian vô tận. Do một sức mạnh vô hình thúc đẩy, nó bay qua những vùng mà mọi vật đều hòa dịu và rực-rỡ, có cảm giác nhẹ nhàng sung sướng, trần gian không có lời nào tả được. Không còn là cái thân nặng nề, như ngục tù tối tăm, nay là cái thân dịch thể, hoàn toàn tự do, không gì trở ngại.

Tuy nhiên, những tâm linh nầy cũng sẽ đầu thai trở lại thân hình xác thịt, hoặc ở thế giới nầy, hoặc ở thế giới khác, để tiến, tiến mãi. Trên những thế giới cao hơn, đời sống sẽ lâu dài hơn và sung sướng hơn, không có những nhu-cầu vật chất như ở đây. Ðến khi tâm linh đã trãi qua đời sống trên các tầng cao, thì sẽ thoát khỏi luân hồi, bấy giờ là đời sống yên tỉnh, trong sạch, vĩnh cửu, đoạn tuyệt phiền não. Rồi tiến lên mãi, lên mãi đến thượng đỉnh. Chỉ có những tâm linh tiến hóa cao tột bực mới chịu nổi ánh sáng mãnh liệt của Thượng Ðế.

Muốn được thăng lên những tầng cao, thì trước hết phải lìa bỏ những tham vọng, thèm thuồng, phải đạt được những đức tính dịu-dàng, nhẫn nại, tin tưởng, phải chịu khổ không phàn-nàn, khóc trong thầm lặng, coi nhẹ của cải và lạc thú giả tạm của thế gian, đặt hết tâm tư vào việc thiện. Phải chịu đau đớn, thiếu thốn, nhục nhằn, cô đơn, phiền muộn, phải chịu ngậm đắng nuốt cay. Vì chỉ có cái khổ nó mới làm nẩy nở sức mạnh hùng dũng của linh hồn, nó rèn đúc linh hồn để phấn đấu để được thanh khiết, để thăng tiến lên đời sống cực lạc. Hãy trả lại trái đất tất cả những gì thuộc trái đất, hãy hướng lên những kho tàng vĩnh cửu, hãy làm tròn phận sự, dù có phải hy sinh, phải chết. Hãy ban ra tình thương, tình thương vô cùng tận. Ðó là gieo mầm cho lạc thú tương lai.

 

3. Thế Giới Bên Kia (A WORLD BEYOND)

 

Tác giả: Ruth montgomery Coward, Mc Cann & Geoghegan, Inc, 200 Madison Ave NewYork, N.Y. 10016

Tác giả thuật lại lời của một người từ thế giới bên kia nói lên bằng phương pháp đánh máy tự động. Người ấy tên là Arthur Ford, đã chết ngày 14-1-1971, thọ trên 70 tuổi. Phần lớn đời sống của ông dành cho việc khảo cứu về thế giới vô hình. Ông là một con đồng (medium) nghĩa là người có khả-năng để cho những linh hồn có thể tiếp xúc với người trần qua trung gian của ông. Có rất nhiều người đã biết tiếng ông.

Ông học rộng, đọc nhiều, sáng suốt, nghĩa là có thể nhận biết ngoài giác quan vật chất, có khả-năng nhìn đồ vật mà đoán được sở hữu chủ. Ngay trong khi thức tỉnh, ông có thể nghe người chết nói với ông. Không như nhiều con đồng cần nơi hoàn toàn đen tối, ông có thể lên đồng bất cứ lúc nào, ban ngày hay đèn sáng, chỉ buộc một chiếc khăn thẫm màu bịt ngay mắt, linh hồn người chết sẽ nói qua miệng ông. Khi còn trẻ, ông là mục sư Tin Lành, ông đã có khả năng nhìn thấy được ngoài tầm con mắt, như một buổi sáng trong trại lính. Trước khi thức giậy, ông "trông thấy" tên những người mới chết đêm vừa qua, ông kể cho các bạn hay, họ ra xem bản danh sách thấy đúng, không những đúng tên mà đúng cả thứ tự. Trong nhiều năm sau ông nghiên cứu về Huyền-Bí- Học.

Tác giả cũng có khả-năng nhưng không muốn trở thành con đồng, mà chỉ dùng vào việc đánh máy tự động. Phương pháp nầy cũng như cầu cơ, phụ bút tại Việt Nam, nhưng diễn tả được nhiều hơn, và rõ-ràng nhanh chóng hơn. Những phiên đánh máy tự độ ng để viết ra cuốn nầy, bắt đầu ít ngàysau khi việc hỏa táng thi hài ông Ford hoàn tất, và tro được rãi xuống Ðại-Tây-Dương gần Miami. Những lời trong cuốn nầy là lời của ông Ford mà tác giả thuật lại. Cuốn sách được xuất bản năm 1971 là năm ông Ford chết.

Ðại khái những điểm quan trọng như sau:

- Mỗi người là một thực-thể tồn-tại mãi mãi trong cõi vô cùng, không đầu, không cuối vô thủy vô chung.

- Mỗi người trong chúng ta là một phần của Thượng Ðế, tất cả chúng ta hợp lại là Thượng Ðế.

- Mỗi chúng ta đều thiếu sót nếu không có toàn thể nhân loại, cả người sống và người chết. Tất cả chúng ta hợp lại thành Tâm linh Vũ-trụ, mà ta quen gọi là Thượng Ðế.

- Trong cõi vô hình không có thời gian, chúng ta có thể xóa bỏ thời gian và không gian, vì có thể đến bất cứ nơi nào bất cứ lúc nào theo ý ta muốn, và chúng ta có thể nhìn xa trong cái mà thế gian gọi là tương lai, vì mọi sự đều định trước cả. Nếu người nhân thế hiểu rằng mọi sự được định trước đến mức nào, thì họ sẽ không phải phấn đấu mảnh liệt để tránh tai ương, vì khi đã là tiền định thì khổ tâm có ích gì! Hãy chấp nhận mọi việc xẩy đến, duy phải nhớ cố gắng có một đời sống hữu ích. Chẳ ng nên sợ hãi, vì đó là ý muốn của Thượng Ðế, hoặc là phận sự mà ta đã lựa chọn khi trở lại đời sống vật chất. Giữ tâm thoải mái làm hết sức mình.

- Ði vào cõi chết chẳng khác gì bước qua một cửa mở chào đón, bước ấy nhanh chóng hầu như không cảm thấy. Người thì vui mừng, kẻ thì miển cưỡng, nhưng phải đều nghe theo tiếng gọi của Vũ-trụ đến nơi yên tỉnh.

- Có nhiều việc làm, nhưng chỉ là những việc có mục-đích cần thiết và thích nghi, nhưng muốn làm hay không tùy ý, không ai bắt buộc phải làm gì cả, tự mình chọn lấy việc làm nếu muốn tiến.

- Ý nghĩ cũng là hành động. Với ý nghĩ chúng ta tạo nên không những khuôn khổ cho đời sống tương lai, mà còn cả Thiên đường hay Ðịa ngục cho chính mình.

- Tham thiền rất là quan trọng, cần tiếp tục luôn luôn trong cõi hữu hình, vì đó là sợi dây liên lạc với tâm của Thượng Ðế. Như người đi học, mỗi ngày bài học khó hơn hôm trước. Cũng thế, mỗi ngày bỏ qua không tham thiền là một ngày uổng phí, mà thời giờ trôi đi rất nhanh chóng. Có ở bên vô hình mới thấy rõ là bên hữu hình một đời người không lâu hơn một tia chớp là bao, và thời gian từ đời sống nầy sang đời sống khác, có khi trải hàng bao nhiêu thế-kỷ hay hàng triệu năm, cũng chỉ như là nh ững lúc chờ đợi hơi lâu mà thôi.

- Thời gian trong cõi vô hình không có nghĩa gì cả. Không ai có tuổi, vì ai cũng có từ lúc sơ khai và không bao giờ là tận cùng, không có thời giờ, không có gì chết, không có sự chết. Mọi vật đều có từ đầu, không có việc gì tiêu diệt, chỉ là thay đổi trạng thái, như con sâu hóa bướm, rồi tan rã và hồn nó lại sang một thân hình khác.

Ông Ford kể lại cảm giác của ông: Sau khi thoát xác, tôi cảm thấy nhẹ-nhàng, tự do, sung sướng, không còn vướng-víu xác thân nặng nề, không còn bệnh hoạn đau đớn, cảm giác khoan-khoái không sao tả được. Rồi gặp các bạn bè thân thuộc xưa kia đến chào đón vui mừng. Ðời sống hai bên không khác gì nhau, chúng tôi vẫn ở đây, duy không có cái thể xác bị nhiều luật vật-chất ràng buộc. Chúng tôi tự do như gió muốn đi đâu và lúc nào cũng được, có thể đi xuyên qua các vật hữu hình. Nhưng không phải là đi lang-thang, vì ai cũng có mục đích.

Mục đích ở đây cũng như ở bên hữu hình, là làm theo ý muốn của Thượng Ðế. Chúng tôi không ai giống ai, mỗi người một việc khác nhau. Chúng tôi thực sự không được trông thấy Thượng Ðế, nhưng lúc nào cũng cảm thấy Thượng Ðế ở gần kề, vì chúng ta là Thượng Ðế, Thượng Ðế là chúng ta, không có cách biệt. Chúng ta cũng ví như những ngón tay, tuy rằng riêng biệt nhưng vẫn thuộc vào một khối chung.

Thượng Ðế là một sức mạnh trường tồn, nó hợp nhất tất cả mọi vật trong vũ-trụ. Sức mạnh ấy là Chân-lý vũ-trụ, là toàn thiện vũ-trụ. Người mới sinh ra cũng toàn thiện, nhưng sau càng đông thì càng cạnh tranh nhau về vật chất nên mất hòa đồng , mất hòa đồng là căn-bản sinh ra tội ác, cho nên phải chịu luân hồi. Nhưng chúng ta sẽ luôn luôn tìm đến toàn thiện, tìm đến tình thương của Thượng Ðế, tình thương là chất keo gắn liền chúng ta với sức mạnh trung-ương. Hãy yêu thương lẫn nhau, yêu thương Thượng Ðế, yêu thương chính mình, hãy tự mình hòa điệu với sức mạnh vô cùng ấy. Vì chúng ta còn thiếu sót chưa toàn thiện, nên còn phải trở lại trái đất nhiều lần, để mài dũa những khía cạnh lởm chởm của chúng ta cho được hoàn toàn tròn trặn để hòa đồng với đại khối.

Thượng-Ðế cũng là sự hiểu biết hoàn toàn, biết cả những điều cầu nguyện chưa phát ra lời. Ngài là ánh sáng, là sự thật, là tình thương. Ngài là đức Sáng Tạo ra ta, là cha chúng ta, yêu thương mỗi người trong chúng ta. Ngài sẵn-sàng ban cho ta tất cả những gì lợi ích nhất cho ta mà không thiệt hại đến ai khác. Tất cả những điều cầu nguyện do lòng tin và tình thương đều được ban cho. Ngài hàn gắn vết đau, Ngài yêu thương, Ngài an ủi, Ngài coi sóc ngày đêm và năm tháng. Thượng Ðế là tất cả.

Ông Ford nói đến vài trường hợp khác nhau của những người đã bước qua cửa tử.

Người mới qua đời với cái chết tự nhiên, bỏ lại xác thân mệt mỏi bệnh hoạn, thì hồn lìa ra dễ dàng không cảm thấy gì.Vừa mới lúc trước còn mang mớ xương thịt đau đớn, mà ngay sau đó đã thấy mình ở trong cảnh đẹp tươi trong sáng. Có người ở trên một cánh đồng cỏ có cây có suối. Bỗng nhớ nhà muốn về nhà, tức thì về ngay, thấy nhà đông người mà không ai để ý đến mình cả. Thấy vợ mặt áo tang ngồi khóc, y lại gần vỗ-về vợ, nhưng vợ không trả lời. Rồi thấy sửa soạn đám tang, y đến gần xem thì rất hoảng sợ, vì đây là lần đầu y trông thấy thân hình y nằm đó và người ta sắp đem chôn. Y cố kêu gọi mọi người rằng y vẫn còn khỏe mạnh đây, nhưng vô ích. Rồi y thấy nhiều người thân củ đã chết từ lâu vây quanh chào đón và nói cho y biết rằng y đã sang cõi vô-hình. Một ông già râu bạc gọi y đến trường học, trong lớp có nhiều người khác, ông già cho biết y nay đã thoát xác rồi, gia đình bè bạn không thể trông thấy và nói chuyện với y được nữa. Y phải chấp nhận và tập cho quen với đời sống tâm linh, có nhiều khả năng hơn trước. Bấy giờ y nhớ lại cuộc đời đã qua và cả những đời trước nữa. Y rất đau khổ đã không hoàn tất được công việc mà y đã quyết định làm khi y nhận lãnh cái thân xác thịt vừa qua. Nay y nhớ lại cái mục tiêu mà y tự đặt ra khi đó, và giận cho y đã quên mất vài phần khi ở trong đời vật chất. Tại sao tiềm thức y nhớ, mà tâm thức y lại quên? Do đó y đã uổng phí một phần đời y, khiến cho y chậm tiến. Y cũng nhận thấy rằng đây là một thế giới hoạt động, người lười biếng tự làm hại mình vì không a i bắt buộc phải làm gì cả, không làm gì thì cứ ở mãi trong tình trạng thấp kém mà không tiến cao lên được.

Hành động tốt nhất để tiến là ban bố tình thương. Một ý nghĩ không tốt, nhất là một ác ý đối với ngươì khác, có thể làm chậm bước tiến đến độ phải cần cả một đời tương lai hoặc hơn nữa để gạt bỏ vết đen ghi trong cuốn sổ tiềm thức. Chớ nói ác, chớ nghĩ ác. Không có điều ác nếu tự ta không tạo ra nó. Chính chúng ta là ma quỷ của chúng ta.

Trong đời sống xác thịt, ta có thể vượt qua được các chướng ngại của thân vật chất, nếu những sự ham muốn, thù hận, được gạt bỏ ra ngoài. Ðời sống thế gian là một đời sống đầy cám dỗ. Sự thách đố vượt qua cám dỗ là con đường nhanh chóng nhất để tiến lên trình-độ cao hơn. Ðối với vô cùng, thì cái thân vật chất chỉ được một khoảnh-khắc ngắn ngủi đã bị hủy diệt rồi, thế thì tại sao không cố vượt qua cám dỗ vật chất nó chỉ tồn tại trong một chớp mắt, để cho sự tiến hóa của ta bị trì hoãn. Nên luôn luôn lưu tâm vào điểm nầy để thắng lực lượng ma quỷ nó vây quanh ta và thúc đẩy ta xa Ðấng Tạo Hóa, chỉ vì khoái lạc nhất thời.

Ma quỷ không phải là một người, hay nói đúng hơn là một hồn người, nhưng là một lực lượng mà mỗi hành động sai lầm càng làm cho nó mạnh hơn. Nguyên thủy chỉ có một danh từ, là danh từ Thiện tức là Thượng-Ðế. Cha chúng ta không đặt ra điều ác, nhưng những linh hồn ở trong thể xác thì ham muốn, tranh đấu, cải cọ với nhau, muốn cho mình được hơn kẻ khác, nên tạo ra một lực lượng ác, dần dần kết thành khối mà người ta quen gọi là quỷ Satan. Không phải Thượng Ðế mà chính là người đã sinh ra quỷ Satan, nó không phải là một linh hồn ác, nhưng là sự hình thành của tội ác, nuôi dưỡng bằng mỗi ý nghĩ và hành động ác. Muốn phá Satan, người cần thức tỉnh rằng ý nghĩ cũng là hành động, và mỗi khi một ý nghĩ ác hoặc hành động ác được thay bằng một ý nghĩ hoặc hành động với tình thương, là mỗi lần con quỷ sẽ bị thu nhỏ lại một phần. Ðến khi nào thiện hay ác không còn trong trái tim mọi người trên trái đất, không những trong thể xác mà cả trong tâm linh, thì chúng ta sẽ đạt tới Chân - Thiện - Mỹ.

Người ốm nặng mong chết để thoát khổ, là người mà hồn lìa xác nhẹ-nhàng hơn cả, vì sung sướng trút bỏ được cái thân bệnh hoạn. Người có tâm đầy tình thương, sẵn-sàng giúp đỡ những linh hồn khác, như những trẻ thơ ngay không có mẹ và những hồn mới còn gặp khó khăn.

Những người chết đột ngột mà không phải là lỗi của họ, như bị tai nạn, bị sát hại hay vì chiến tranh, bị xúc động mạnh khi thấy mình ở trong cõi vô hình không còn làm được những việc quen làm trước kia. Những linh hồn khác hết lòng giúp họ để họ thích nghi với hoàn cảnh mới.

Những người đi lính miễn cưỡng bị tử trận, rất tức giận đã mất cái thân xác trẻ trung hăng-hái. Sự tức giận đó đã không thể giải quyết được gì, còn cản trở bước tiến của tâm linh rất nhiều.

 

Chúng ta dang tay chào đón người mới đến với tất cả tình thương. Lúc đầu họ thường ngạc nhiên, nếu trước kia họ không học hỏi và tham thiền. Họ đói họ khác thì chúng tôi cho ăn cho uống tuy đó chỉ là tưởng tượng nhưng họ coi là thật vì vẫn tưởng là còn xác thân. Dần dần quen rồi, họ mới thấy rằng không cần ăn uống nữa. Chúng tôi để mặc họ muốn làm gì tùy ý, nhưng sẵn sàng giúp họ.

Người tự sát tưởng rằng hủy thân đi là hết, không biết rằng hồn vẫn còn, và như thế vấn-đề vẫn còn, lại thêm khó khăn hơn nữa. Trong cõi vô hình không giải quyết được vấn đề trần gian, phải đợi sang đời sau, biết đến bao giờ? Linh hồn rất đau khổ, tức giận cho mình đã phí mất một đời, khiến cho đời sau càng thêm nặng nợ và còn mang cái tội là đã hủy diệt sự sống mà Thượng Ðế đã ban cho, không ai được quyền lấy đi.

Kẻ sát nhân cũng rất đau khổ, không những đau khổ vì không thể trả lại đời sống cho nạn nhân của y nay cùng ở với y, mà còn đau khổ vì đã cản trở nạn nhân trả nghiệp quả riêng của họ. Hai hạng người nầy tự mình bị dày vò cực khổ vô cùng tro ng thời gian rất lâu chờ đợi để được sang đời khác đền bù tội lỗi.

Những người tuy không có tội nặng nhưng rất khó thích nghi, là những người không tin rằng có đời sống vô hình. Người vô tín-ngưỡng từ trước vẫn nghĩ rằng chết rồi là hết, nên không sẵn sàng để đón nhận hoàn cảnh bất ngờ, nay rất ngạc nhiên, tưởng rằng những người và cảnh vật trông thấy quanh y chỉ là ảo ảnh, do y tưởng tượng. Trong lúc sống không tử tế với ai, tự nghĩ không có bổn phận giúp đở ai. Nay y phải ở chung với đám người cũng ích kỷ như y, nhưng thô-lỗ cục-cằn mà y coi là hạ cấp, muốn thoát ra khỏi mà không được, rất là khổ sở.

Người còn tha thiết đến đời vật chất, đến những người thân, đến tiền của công việc còn bỏ lại, thì tâm trí loạn động nhiều, cần một thời gian dài và nhờ những linh hồn khác giúp đỡ, mới dần dần bỏ được sợi dây ràng buộc y với đời sống trên trần. Rồi y phải kiểm điểm những lầm lỗi trước và tìm cơ hội tái sinh để chuộc lại.

Trước khi lựa chọn nơi tái sinh, tâm linh phải tự kiểm điểm xem những món nợ nào cần trả trước và cần có những đức tính nào để tiến. Rồi phải tìm xem hoàn cảnh nào thích hợp với điều kiện của mình. Nếu y muốn học yêu thương, thì phải chọn nơi nào đức tính ấy không có nhiều. Thường y chọn cha mẹ ở những người xưa kia y đã biết hoặc có sự liên lạc về nhân quả. Rồi y chọn phái nam hay nữ để có thể tiến được nhiều hơn. Nếu nhiều linh hồn trình độ ngang nhau muốn đầu thai và cùng một nơi, thì hồn nào thích hợp hơn cả sẽ được lựa chọn, sự lựa chọn nầy có thể ví như máy tính thiên tạo tự động ghi nhận và ấn định tư cách của mỗi linh hồn.

Linh hồn được trúng tuyển bay lơ-lững gần cha mẹ, và khi ngày giờ đã đến, nhập vào bào thai hoặc đúng lúc hoặc ngay trước hay ngay sau khi lâm sản. Những linh hồn bị loại đi tìm nơi khác thích hợp với mình.

Trường hợp đứa trẻ mới sinh ra đã bị tật nguyền, là gì linh hồn đã chọn thân hình bất toàn ấy, thay vì một thân hình đầy đủ, để trả nợ mau chóng hơn. Những chướng ngại trong đời vật chất càng nhiều, thì linh hồn tiến hóa càng nhanh, nhanh hơn là những người có đủ tiện nghi trên đời. Càng tiến nhanh trên phương diện tâm linh, thì càng ít phải trở lại thân xác thịt.

Thường thường linh hồn trước kia thuộc phái nào, nam hay nữ thì lại thác sinh vào phái ấy. Nhưng cũng có khi lựa chọn phái khác để học hỏi, như một người tính vũ phu muốn sinh ra phái nữ để học tính dịu-dàng, một phụ nữ nhút-nhát sinh ra phái nam để học can đảm. Trường hợp một bà bị tê liệt nửa người và run rẩy, chúng tôi nhận thấy rằng trong một tiến thân, người ấy ở thành La-Mã là một tên lính dữ tợn ưa làm cho kẻ khác run sợ; Y đã thả thú dữ ra để cho nạn nhân sợ hãi trước khi bị cắn xé. Nay để đền tội, y phải sinh ra làm một người đàn bà yếu ớt và run rẩy.

Những linh hồn đã tiến hóa đến một trình độ tương đối cao, đều hộp nhau để học hỏi. Không có lể nghi như ở trần gian hộp ngày chúa nhật tán dương Thượng Ðế. Những linh hồn nầy trong đời vật chất đã tiến hóa, đã tham thiền để hòa đồng với Vũ -trụ. Họ đã không uổng phí thời giờ trên mặt đất, nay họ có thể tiến hóa nhanh chóng hơn. Nhờ bước tiến nhanh, những lần phải luân hồi sau nầy sẽ giảm bớt đi. Có ở trình độ nầy mới biết cái cảm giác thích thú và thỏa mãn được tiếp tục học hỏi về tâm linh khi bước sang cõi nầy. Những người không tin và nhạo báng rất đáng thương, họ không bao giờ biết cảm giác khoái lạc ấy.

Những linh hồn đã tiến hóa luôn luôn hoạt động. Một số trong chúng tôi học hỏi để tiếp tục tiến hóa, một số dạy những linh hồn mới đến, một số nữa tham thiền và cầu nguyện mong chuộc tội lỗi đã qua. Ðừng có điên rồ tưởng rằng chúng tôi lìa bỏ xác phàm bước sang thế giới tâm linh là chúng tôi gần thiên đường hơn và tự nhiên được hợp nhất với Thượng Ðế. Muốn đạt tới sự hợp nhất ấy, phải trải qua nhiều triệu triệu năm cố gắng đặc biệt theo luật Thượng Ðế và giúp đở người khác trên đường thăng tiến. Mỗi việc lành ta làm cho người khác mà không cầu báo là một lần làm thêm sáng tỏ và rút ngắn bớt con đường ấy.

Tâm bố thí không giới hạn, không mong báo đáp, là bật thang lên thành quả tâm linh. Ðừng cho tay trái biết việc làm của tay phải. Hãy bố thí trong thầm lặng, đừng nói cho ai biết, nên tìm cái vui thú trong việc làm hơn là trong lời nói. Nếu người đời đã khen, đã ca tụng rồi, thì còn mong gì Thượng Ðế khen thưởng nữa. Ta không mong ai ca ngợi khi ta tự giúp ta, tại sao ta lại mong ca ngợi khi ta giúp người khác, khi người ấy cũng là một phần chúng ta, một phần của Thượng Ðế!

Bên trong mỗi chúng ta đều có trí sáng suốt hiểu rõ chân lý. Chúng ta đều có khả năng tiến tới cái gọi là Thượng Chủng, nghĩa là giống thượng đẳng (super race). Xưa kia chúng ta là một phần của Thượng Chủng, nhưng về sau lòng tham lam, ích kỷ, thù hận và nhiều ý nghĩ tồi tệ khác dần dần thâm nhập vào những người mang thân xác thịt.

Tiềm thức chúng ta chứa chất tất cả mọi điều hiểu biết mà chúng ta thu thập từ khi bắt đầu được cấu tạo. Nó là cái kho tài liệu vĩ đại nhất chưa bao giờ thấy, nhưng trong khi còn mang thân xác thịt thì không thể mở kho ấy bằng cách thường. Qua những giấc mơ và lúc tham thiền, hoặc nhờ thôi miên đúng phép, ta cũng chỉ có thể mở được một phần mà thôi. Nhưng ở đây, trong cõi vô hình, tất cả kho ấy trong đời quá khứ luôn luôn bày ra trước mắt, và nếu tâm linh ta có khả năng hơn, ta có thể thấy được các đời trước nữa.

Có rất nhiều trường dạy tiến hóa tùy theo trình độ của linh hồn. Chúng ta được tạo nên do một phần của Thượng Ðế, có đủ tính chất của Thượng Ðế, vậy muốn hoàn tất cuộc hành trình của chúng ta và trở về với Thượng Ðế, thì phải được thấm nhuần triết lý của Vũ-trụ và hiểu biết luật lệ của Vũ-trụ để được hòa đồng với Tạo-Hóa là cha chúng ta.

Ông Ford nói đến hai phần tự tin là mình hoàn toàn, đã đạt tới đức hạnh bực Thánh.

Một người cho rằng mình đã sẵn-sàng để được vào hàng Thánh, và mong được Thánh Gabried dẫn đến ngay vàng của Thượng Ðế ngay khi bước sang cõi vô hình. Y khoe với mọi người rằng y không hề làm gì lầm lỗi, không bao giờ trộm cắp, lừa dối, tà dâm. Y làm việc trong nhà thờ và dự vào nhiều việc từ thiện, y chắc rằng đời sống nầy là đời cuối cùng trước khi về với Thượng Ðế ở trên trời. Tâm y nhẹ nhàng khi bước qua bên nầy, và tỉnh giậy thấy quanh mình phong cảnh ngoạn mục. Y thấy một đám người áo trắng đi đến tưởng rằng họ đến đón y, nhưng họ đi thẳng. Lại thấy lũ trẻ chơi đùa, y gọi chúng hỏi thánh Gabried ở đâu, chúng nói chúng chẳng gặp thánh thần nào cả. Y tìm đến một ông già râu bạc ngồi trong lều, y hỏi đường đi tìm thánh Gabried, Ông già nói: "con đường nằm ở bên trong"

Y nghĩ là một đường hầm, nhưng tìm không thấy, y lại hỏi: "tại sao không ai chỉ đường cho tôi đến Thượng Ðế? Tôi có việc cần gặp Thượng Ðế, Thượng Ðế ở đâu?".

Ông già lại nói: "hãy nhìn vào bên trong"

Y nhìn quanh trong lều chẳng thấy gì, bực mình nói: "đừng có đùa bỡn, tôi cần đến Thiên đình."

Ông già nói rõ: "Tôi biết , nên tôi đã bảo anh hãy nhìn vào bên trong anh. Ai nấy đều phải tự xét đoán mình trước khi gặp Ðức Sáng Tạo.

- Nhưng tôi không làm gì lầm lỗi cả, đời tôi trong sạch nay tôi sẵn sàng gặp Thượng Ðế.

- Còn tánh tự phụ của anh thì sao? anh lấy làm chắc rằng anh không lầm lỗi?

- Tôi chắc, vì cả đời tôi không làm gì trái cả. Tôi đã cố gắng làm phận sự, và nay tôi chờ được khen thưởng trên trời.

Bấy giờ ông già nắm tay y nói: "con chưa thấy sao con? Con đã nghĩ đến linh hồn con nhiều quá, mà không nghĩ đến làm bớt đau khổ cho những người không bằng con. Con đã bao giờ hy sinh miếng bánh của con cho kẻ ăn mày đói ngồi ở đầu đường chưa? Con có lúc nào bớt thì giờ để nghe những nỗi khó khăn của người dưới quyền con không? Con có bao giờ nghĩ đến làm cho tâm hồn vợ con được thoải mái không? Nay vợ con được sung sướng hơn khi con còn sống, vì không phải bị con bắt phải kính trọng con như một ông thánh. Hãy nhìn xem vợ con đang làm gì."

Lúc ấy y nhìn thấy nhà y ở California. Một người đàn ông ngồi ruỗi dài trên ghế của y. Vợ y trông khỏe mạnh vui vẻ. Người kia nói: "Chúng ta sẽ được hoàn toàn hạnh phúc.

- Phải sau khi mãn tang.

- Sau lâu thế.

- Sợ người ta chê cười. Còn John thì chắc y chẳng để ý gì đến dưới nầy nữa, chắc y đương ở trên trời và tìm đến Thượng Ðế. Thật là khó kinh khủng mà sống với một người tự cho mình là ông thánh."

Bấy giờ y mới nhìn vào nội tâm y và nhận thấy rằng y đã lo tạo cho y trở thành ông thánh nhiều hơn là phụng sự Thượng Ðế và những người chung quanh. Tệ hại hơn nữa là y đã được nhiều lời khen ngợi ở thế gian về việc làm của y, nên không còn gì để đem theo tâm linh nữa. Nay y hiểu rằng chỉ có bố thí và giúp đỡ trong sự yên lặng vô danh mới được thưởng công trên trời, y đau khổ giận cho y rằng đời gương mẫu của y đã không giúp ích cho linh hồn y như đã giúp cho đời vật chất của y. Chi mà khôn g có tình thương, tình thương không vị kỹ, thì những việc làm của y trong xã hội được khen ngợi nhiều, chỉ là những ngày trống rỗng. Nay y đã hiểu bí mật của sự cứu rỗi là bố thí không vị kỷ, đặt quyền lợi người khác trước quyền lợi của mình, yêu thương v à giúp đở lẫn nhau.

Một người đàn bà cũng tin rằng mình có đủ đức tính của một vị thánh và mong đợi được đưa thẳng đến gặp Thượng Ðế. Thị thức giậy ở bên nầy và nhìn quanh tìm cửa bằng ngọc để đi vào tìm thánh Peter. Thị đến một cửa, không đẹp như thị tưởng, đi vào thấy vườn hoa đẹp nhưng không để ý, chỉ chăm chăm đi gặp Thượng Ðế. Trên đường thấy có nhiều người cùng đi, thị vượt lên trước họ đến một nơi cao, chắc rằng trên đó Thượng Ðế đương ngồi chờ thị. Thấy một người cũng leo lên gần thị, nhận ra bà lão ăn mày trước kia vẫn gặp ở đầu đường, thị tỏ ý khinh bỉ, chỗ nầy đâu phải là nơi lão được đến! Thấy một người trẻ tuổi mặt sáng, chắc là một vị thiên thần, thị xin được đưa đến trước Thượng-Ðế. Vị nầy nói: "Nhưng thưa bà, tất cả chúng ta là Tượng-Ðế" Thị bực mình, vì nói như thế là gồm cả lão ăn mày bên cạnh thị. Thị nói: "Ðừng có đùa cợt, ông hãy dẫn tôi đến gặp Thượng Ðế".

Bấy giờ đám đông mà thị đã vượt lên trước đã đến nơi vây quanh thị, thị bực rằng sẽ không được đứng hàng đầu nữa. Người trẻ tuổi nói với tất cả đám đông:

"Quý vị hãy nghe đây, Thượng Ðế ở khắp nơi. Thượng-Ðế là tình thương, quý vị thương yêu nhau và giúp đở nhau là có Thượng-Ðế trong đó".

Thị bực lắm, hỏi rằng: "Thiên Ðình ở đâu?

- Thiên Ðình ở ngay nơi bà đứng."

Nhưng thị nhìn quanh, chẳng thấy Thiên Ðình đâu cả. Dần dần thị mới hiểu ý, Thiên Ðình ở ngay nơi thị, quan tòa là thị. Bấy giờ thị nhìn vào nội tâm, mới thấy rõ sự thật kinh khủng. Trong khi cố gắng một đời sống trong sạch không tội lỗi, thị chỉ nghĩ đến riêng mình, không bao giờ có một lời an ủi cho người kém mình, mà lại còn muốn tránh xa sợ họ làm nhơ bẩn cái áo trắng trong của thị. Ðâu là tình thương người khác? Thượng-Ðế không cần nói, thị cảm thấy câu trả lời trong tâm thị, thị biết cái tâm của thị hơn ai hết, chính thị là quan tòa của thị.

Những người đã chết không phải là bay lơ lửng trên không trung. Họ ở ngay trên mặt đất, không ở đâu khác, vì chỉ có một Vũ-trụ duy nhất. Họ không ngủ trên giường ta, không ngồi trên ghế ta, nhưng họ hoạt động ngay giữa chúng ta. Họ cũng đi cùng đường nhưng không bị cản trở về vật chất, không phải đi vòng quanh những chướng ngại như nhà cửa hay tảng đá. Tuy họ cùng ở với ta, nhưng ta không thấy họ mà họ vẫn thấy ta và biết được cả ý nghĩ của ta.

 

Khi chúng ta tham thiền là chúng ta được gần Thượng-Ðế, chúng ta gặp Thượng-Ðế ở trong chúng ta. Càng thiền được nhiều trong cõi hữu hình, thì càng tiến nhanh trong cõi vô hình. Nên nhớ là khi tham thiền, bắt đầu phải thở cho sâu, để tống r a những hơi độc tích tụ trong thân hình. Ðọc một câu chú, rồi nghĩ rằng mình hòa đồng với Vũ-trụ. Hãy tự coi mình là một phần của tạo Vật, của tinh hoa Thượng-Ðế, hãy quên cá tính mình đi, tưởng tượng như mình với Vũ-trụ chỉ là một. Sau một thời gian, sẽ cảm thấy mình nhẹ bỗng, tựa hồ như một tâm linh bay vơ-vẫn trong một bầu trời xa lạ. Hãy thí nghiệm, luôn luôn giữ ý nghĩ hợp nhất hoàn toàn, chẳng bao lâu sẽ cảm thấy hòa đồng với Tạo Vật. Rồi tiến sâu hơn, hãy để cho tâm linh Thượng Ðế tràn ngập vào tâm khảm mình. Hãy dành ra ít nhất 15 hay 20 phút mỗi ngày giữ yên lặng như thế. Hãy đón nhận lời của Thượng Ðế.

Cầu nguyện khác hẳn với tham thiền. Cầu nguyện là tác động, không phải thụ động như tham thiền, mong cảm đến trái tim của Thượng-Ðế. Nghĩ điều thiện thì Thượng Ðế ở kề bên. Hãy cầu nguyện cho một mục tiêu tốt đẹp, không phải cho lợi riêng m ình. Nên nhớ rằng cầu nguyện để hại người khác, thắng địch thủ, hơn bạn bè là vô ích.

Khi một linh hồn mong đợi gần Tâm của Thượng-Ðế, nó sẽ nâng cao ý nghĩ đến độ cảm thấy mình như bay bổng và đầy khoái lạc. Cảm giác mạnh đến nổi quên cả mình trong thế giới tâm linh, bấy giờ thấy rằng khoái lạc xác thịt không còn có nghĩa g ì nữa. Rồi từ đó sẽ tiến lên, không phải trở lại đời vật chất nữa. Trên tầng cao hơn, ta chỉ còn là tâm thức, không còn nghĩ đến cá tính nữa. Tầng nầy chưa phải là tầng cao nhất, chỉ là một nấc thang trên đường tiến hóa. Chúng ta đi trong ánh sáng, ánh sá ng của Chân-Lý Vũ-trụ. Cũng không ở luôn mãi đó, mà tiến mãi đến toàn thiện.

Ông Ford nói đến một người, lúc sống đã học hỏi, hiểu biết và tham thiền linh hồn thoát xác được sáng suốt ngay. Sau khi chào hỏi bạn bè thân thuộc y tham thiền trong khi rung động của vũ-trụ tràn ngập y với cảm giác sung sướng lạ lùng. Y tìm ngay những hồn mới đến, lạc lõng hoặc mê man để giúp đỡ. Y không mất một giây phút thương tiếc cho cái thân xác đã mất, y biết rằng sẽ gặp lại người thân trong cõi-vô-hình, y đã để lại mọi việc tốt đẹp trên đời, nay y tiếp tục tiến hóa. Có nhiều người được như thế, không phải ai nấy đều biết rõ những gì chờ đón họ, nhưng họ sẵn sàng chấp nhận mọi điều Thượng Ðế ban cho, và rất vui mừng rằng vẫn được tiếp tục hoạt động với nhiều việc để làm.

Người nầy sẽ tiến rất nhanh, sẽ sớm có dịp trở lại thân hình khác, hoặc tiến lên tầng cao hơn. Nếu muốn tiến lên, thì phải học các thầy tiến hóa. Các thầy sẽ dạy cách thay đổi tần số rung động để dần dần hòa nhịp với với rung động ở tầng trên. Khi tần số rung động của họ đã cao và lên được tầng trên, thì chúng tôi sẽ không thấy họ nữa, mặc dù họ vẫn ở đây, họ vẫn thấy chúng tôi, đại-khái cũng như người trần không thấy chúng tôi mà chúng tôi vẫn thấy người trần. Nhưng nếu họ muốn thì họ vẫn có thể hạ thấp rung động để cho chúng tôi thấy. Trong đoạn sau, ông Ford sẽ nói đến những tầng trên rõ ràng hơn.

Ông Ford trước kia đã được lên tầng trên, nhưng tự ý muốn trở lại thế gian để thực hành những điều đã học hỏi. Vì thế khi ông là mục sư ở trong trại lính, ông đã trông thấy danh sách những người chết đêm trước khi ông mới ngủ giậy còn ở trong phòng (xem trang 13) vì đã có khả năng nhận tin tức từ khắp nơi.

Trái lại, một người không tin, lúc sống cho rằng chết là hết không còn gì nữa, khi mở mắt ra thấy có nhiều người quanh mình khuyên nhủ và giúp đở, lại cho là ảo-ảnh, là tưởng tượng, không phải thực, nên nhắm mắt lại. Khi mở mắt ra thì không thấy ai nữa, mà thấy mình rơi vào vực thẩm đen tối, ở trong tình trạng rất sợ hãi. Tình trạng nầy thường kéo dài rất lâu, đến khi nào lòng tin trở lại, cầu Thượng Ðế cứu, bấy giờ lại được thấy nhiều người đến giúp đở. Những linh hồn nầy khi tỉnh ngộ rồi thì cố gắng học hỏi, giúp đỡ những hồn khác và sẽ tiến hóa nhanh. Còn những hồn cố chấp không tỉnh ngộ thì cứ ở trong cảnh đen tối hàng ngàn năm.

Kẻ sát nhân cố tình giết hại người khác để thỏa mãn ác ý của mình, thì ở trong tình trạng như chết một thời gian lâu, đến khi tỉnh giậy thấy mình ở trong địa ngục mà chính mình đã tạo nên. Không phải là trông thấy quỷ sứ, nhưng thấy chính mặt y bị biến dạng vì thù hằn, tham lam, ác độc. Y sợ rúm lại tưởng mình bị quỷ nhập. Y thất đảm khi nhận ra rằng không những y đã bỏ phí một đời không tiến, mà còn thụt lùi trở lại nhiều đời nữa mới có thể chuộc được tội y. Bấy giờ y nhớ lại ý muốn của y là vượt qua mọi sự cám dỗ khi y bước vào cuộc đời, khốn nỗi y đã làm trái ngược với ý muốn ấy.

Linh hồn nầy bị đau khổ trong thời gian rất dài. Ðến khi thất vọng cùng cực, y rên xiết cầu Thượng-Ðế cứu. Nếu y thực tâm hối hận, những linh hồn khác sẽ đến giúp y, và dần dần y sẽ tiến lên rất chậm, rất chậm, cho đến khi hiểu biết cái hình phạt vì đã lấy đi một mạng sống do Thượng Ðế ban cho. Như Lee Oswald đã bắn John Kennedy, và Jirhan đã bắn Bobby Kennedy, sẽ còn phải đau khổ lâu lắm trong sự hối hận. Ðến như Hitler thì chẳng khác nào y bị trơ-trọi trên một cù-lao đen tối không nhà cửa , và sẽ không bao giờ rữa sạch được tội ác của y.

Người tự sát trong một giây phút thất vọng, đã lầm tưởng rằng chết là giải quyết được vấn đề, không biết rằng đâu có dễ-dàng giải quyết như thế, và chúng ta không có quyền dập tắt ngọn lửa sống mà Thượng Ðế đã thắp sáng lên. Ðược mang cái thân xác thịt là đặc-ân Thượng Ðế ban cho để trả nợ nghiệp chướng. Nhiều hồn khác còn phải chờ đợi để được trở lại làm người, nay ta đã được rồi lại hủy bỏ cái đặc-ân ấy, thì nghiệp chướng sẽ tăng lên gấp mười, và phải chờ đợi rất lâu mới lại được đầu thai.

Những nạn nhân bị sát hại không mang mối hận thù kẻ đã hại mình. Ở trong cõi vô hình mà còn hận thù thì sẽ bị thoái hóa rất nhiều, có khi hàng vạn năm. Họ hiểu rằng như thế là họ đã trả được nghiệp chướng, trả được tội lỗi quá khứ, và sẵn sàng tha thứ.

Ông Ford nhắc lại rằng không có tòa án xử tội, ngoại trừ chính lương tâm chúng ta, lương tâm ấy lại chính là Thượng Ðế. Khi tấm màng che mắt ta không còn nữa, thì ta thấy rõ đâu là trái đâu là phải. Ta rất vui mừng khi nhận thấy rằng những việc giúp đở nhỏ mọn, một lá thơ hay một nụ cười an-ủi, những việc mà ta đã quên, lại giúp ích cho ta tiến hóa nhiều hơn. Trái lại những hành động mà ta tin rằng có lợi cho ta lại làm cho ta chậm tiến, vì ta đã làm một cách rầm-rộ, khoa trương, để được hãnh diện, được khen ngợi. Hãy giúp người chỉ vì người ta cần giúp, tùy theo khả năng của mình, xong rồi quên đi đừng mong cảm ơn và báo đáp, cũng không cần ai biết cả. Hãy coi mình như một cái giếng, lúc nào cũng tràn đầy tình thương.

Chỉ có thể chữa bỏ những thói hư tật xấu ở trong đời hữu hình. Ở cõi vô hình không làm gì được cả vì không có những cám dỗ. Trường học gian khổ là đời vật chất, có nhiều cám dỗ mà ta phải vượt qua.

Có người lấy làm lạ tại sao có những linh hồn tiến hóa cao luôn luôn giúp đỡ người khác, lại có những linh hồn cục-cằn không hơn thú vật. Sự đó có thật. Lúc mới đầu chúng ta đều như nhau, là những tàn lửa của Thượng Ðế, nhưng trải qua những đời sống trên trái đất, mỗi linh hồn phản ứng với hoàn cảnh một cách khác nhau. Chớ nên mắc vào thói hư tật xấu, luôn luôn giúp đở người khác, nhớ mục tiêu là trở về với Thượng Ðế.

Ðừng mong tiến hóa lấy riêng mình, không thể nào có chuyện ấy. Nếu muốn chạy đua vượt lên trước người khác, thì không bao giờ đến được thượng đỉnh. Bỏ lại người khác là cách tốt nhất để thục lùi, rồi phải bắt đầu trở lại. Cần phải thương yêu lẫn nhau, giúp đở người khác cùng tiến với mình.

Tự ta ghi chép lấy vào cuốn sổ của ta. Không có tòa án, không có quan tòa râu bạc nào, ngoài lương tâm của chính ta, không thể che đậy gì được, không thể trốn chạy đâu được.

Những tầng cao hơn có nghĩa là những trình độ thức-giác cao hơn, chứ không phải là ở tầng lớp cao hơn, vì các giới cùng ở một nơi. Muốn được tiến lên tầng cao, cần nhiều công phu học hỏi, những người ở tầng trên mà muốn xuống tầng dưới thì rất dễ-dàng. Người ở tầng dưới không thấy được người ở tầng trên, nhưng người trên thấy rõ người dưới, đại khái cũng như chúng tôi đối với người ở cõi trần. Không thể lấy lời nói của trần gian để tả trình độ sáng suốt ở mỗi tầng. Ví như một quả bóng thổi phòng bằng khinh khí, khi còn ở dưới đất là còn trông thấy và sờ mó được, nhưng khi đã cắt dây thì quả bóng bay lên, cũng như sợi dây bạc nối hồn với xác, khi chết dây đứt thì hồn lìa khỏi xác. Quả bóng lên cao trên thượng tầng không khí, người dưới đất không trông thấy nữa, nhưng ở trên cao vẫn trông thấy ở dưới. Ðó là thí dụ rất thô sơ, nhưng khó nói rõ hơn, vì tâm chí người ta bị hạn chế, không thể hiểu xa hơn được. Chúng tôi hiện nay ở cõi trung-giới, còn có liên lạc với đời vật chất, những người ở tầng trên đã đoạn tuyệt với trần gian.

Chúng tôi học hỏi ở đây, có thể lựa chọn hoặc trở lại luân hồi, hoặc tiến lên tầng trên. Tầng trên ví như tầng không khí loãng, trong một thời gian không còn liên lạc với những hồn khác và với cõi trần. Chúng tôi như là bay bổng trong một bầu khí quyển mà tần số rung động rất cao. Tạm giải thích như vậy, thật ra không có lời nào tả được. Ở đấy không khí rất mạnh, hay đúng ra là không có không khí, không có gì che đỡ những tia sáng chói lọi. Chúng tôi phải cố gắng chịu đựng ở đó, rồi lại học hỏi để tiến xa hơn nữa.

Rồi sau chúng tôi đi qua từ tinh cầu nầy sang tinh cầu khác. Chúng tôi đi trên mặt tinh cầu như người trần đi trên mặt trái đất, chỉ khác là không còn thân xác thịt nặng nề. Chúng tôi chỉ còn như là ý nghĩ (theo kinh Phật thì có lẽ đây là H ữu-tưởng-giới). Lên trên nữa thì chúng tôi chỉ còn là ánh sáng, tuy nhiên chúng tôi vẫn là chúng tôi, cái ta vẫn còn.

Những tầng trên có thể gọi là tầng thứ ba và tầng thứ bốn, những tầng chỉ khác nhau về tần số rung động. Chúng tôi phải học hỏi để có thể thích hợp được với những làn sóng ánh sáng và tiếng động nó mạnh đến độ có thể làm mù hoặc điếc những người ở cõi trần. Chúng tôi bấy giờ ở trong tình trạng như một chất dịch-thể, tuy nhiên không phải là một chất lỏng. Chúng tôi được đổ vào cái khuôn Vũ-trụ "nói thế cho dễ hiểu" và gần như hợp nhất với Vũ-trụ.

Ðó là tầng thứ ba. Tầng thứ bốn là lên ở những tinh cầu khác như Hỏa-tinh, Thủy-tinh, Mộc-tinh, Kim-tinh, Thổ-tinh..v.v. nhưng không phải là thân vật chất, mà là trình độ giác-thức cao hơn. Trên những tinh cầu đó cũng có hình thể sinh vật, nhưng khác hẳn với hình thể trên trái đất, trình độ tiến hóa các sinh vật ấy cũng khác nhau.

Nếu một linh hồn tội lỗi nhiều kinh khủng đến độ cần phải tới ngàn triệu đời sống mới chuộc được, thì linh hồn ấy sẽ ở trong tình trạng tuyệt vọng nơi trái đất nầy (thí dụ như Hitler). Linh hồn ấy có khi phải nhận lấy một thân hình hoàn toàn khác mà chúng ta ở trái đất không gọi là người, ở trên một tinh cầu khắc khổ bội phần, để có thể đền bù tội lỗi nhanh chóng hơn.

Những tâm linh ở trái đất muốn tiến hóa lên những tầng cao, phải mất nhiều công phu học hỏi nâng cao tần số rung động của mình, để không những lên cao mà còn phóng mình sang tinh cầu khác. Cuộc viễn-du nầy khiến họ học hỏi được nhiều về nhữ ng định luật của Vũ-trụ. Và khi lên đến tầng thứ bốn và thứ năm, thì có thể ở trên nhiều tinh cầu cùng một lúc, vì khi đó với thức-giác cao, hồn có thể phân thân ra nhiều nơi.

Cao hơn hết là tầng thứ sáu, linh hồn đã đạt tới toàn thiện, có thể hợp nhất với Thượng-Ðế. Tất nhiên chúng tôi còn xa quá chưa thể biết được, nhưng được dạy cho biết rằng khi một linh hồn gần đến mức toàn thiện, phải kiểm điểm lại tất cả bao nhiêu đời đã qua, từ đời trước nhất, không còn gì vướng mắt nữa. Chúng tôi chỉ được nghe nói thế thôi, những linh hồn đó không bao giờ quay ngược bánh xe vận mệnh vòng trở lại nữa.

Sáu tầng trên đây có lẽ cũng là những giới nói trong kinh Phật.

Tầng thứ nhất là cõi Dương thế mà chúng ta đương sống, có thân hình vật chất, có dục tính, thường gọi là hạ giới, kinh Phật gọi là Dục giới.

Tầng thứ hai là cõi âm, cõi của những linh hồn mới bước qua bên kia, gọi là trung giới, kinh Phật gọi là Sắc giới.

Tầng thứ ba linh hồn không còn sắc chất, là Vô Sắc giới.

Tầng thứ tư chỉ còn ý nghĩ, là Hữu Tưởng giới.

Tầng thứ năm chỉ còn ánh sáng, là Vô Tưởng giới.

Tầng thứ sáu linh hồn đạt tới toàn thiện, là Phi-Hữu-Tưởng-Phi-Vô-Tưởng-Giới, có lẽ là giới của các vị Giáo chủ: Phật, Chúa ..v.v..

Trên hết là Thượng Ðế, có thể gọi là tầng thứ bảy.

Ðó là lấy trí nhỏ mọn của tôi đoán phỏng như thế.

Sau hết, ông Ford nhắc lại rằng trong cõi trung-giới mà ông đương ở, không có thời gian: Chúng tôi nhận thấy rằng chúng tôi tồn tại luôn luôn, vô thủy vô chung. Chúng tôi có thể thấy một khoảng thời gian dài hơn người đời thấy rất nhiều, nhưng vẫn không thể biết được đâu là khởi đầu đâu là tận cùng. Chúng tôi chỉ hiểu biết rộng hơn người trần gian về mục tiêu của Thượng Ðế, nhưng chúng tôi chưa phải là hoàn toàn sáng suốt.

 

4. Thế Giới Khi Xưa
(THE WORLD BEFORE)

 

Tác giả: Ruth Montgomery Coward, Mc Cann Geoghegan, Inc. 200 Madison Ave, New York, NY. 10016

LỜI NÓI ÐẦU

Tác-giả là một phóng viên báo chí, vốn không tin những sự huyền bí. Nhưng trong nhiều năm, bà đã được chứng kiến nhiều sự kỳ lạ xảy đến cho những người thân và bạn bè, báo trước những việc sắp tới, hoặc báo tin đúng lúc việc xảy ra tại nơi khác rất xa, có khi phải vài ngày sau mới được tin theo lối thông thường. Bà cũng đã tiếp xúc với nhiều con đồng (medium), dự nhiều phiên gọi hồn và viết tự động mà ta gọi là cầu cơ. Con đồng là người có khả năng tiếp xúc với người sống qua miệng hoặc tay của họ. Chính tác-giả cũng có khả năng đánh máy tự động, là để cho một linh hồn mượn tay của mình đánh máy ra những điều muốn nói.

Bà là một trong nhiều nhà học giả khảo cứu về thế giới vô hình. Nhờ những điều hỏi được các linh hồn, bà đã viết ra một số sách, như: A Search for the Truth (Tìm Sự Thật), A Gift of Prophecy: Jeane Dixon (Nhà Tiên Tri Jeane Dixon), Here and Hereafter (Ðây và Sau Ðây), A World Beyond (Thế Giới Bên Kia) và cuốn này.

Cuốn Thế Giới Khi Xưa này cũng được viết ra bằng những tài liệu do những linh hồn cao siêu mà tác giả gọi là Dẫn-đạo-sư (spirit guides) đã đánh máy ra qua bàn tay của bà. Dẫn-đạo-sư kể lại sự tích từ khi khai thiên lập địa, nghĩa là từ khi trái đất mới thành hình, rồi bắt đầu có loài người, những sự phấn đấu của những người thái cổ (homo-sapiens) với thiên nhiên và với những giống vật khổng lồ đời tiền sử.

Khi Dẫn-đạo-sư nói đến những điều khó tin như cây cối rậm rạp vùng nhiệt đới tại nơi ngày nay băng giá quanh năm, tác giả đã tham khảo và tìm thấy những tài liệu khoa học trong tập Bách-Khoa Toàn Thư Encyclopedia Britannica) và vài cuốn khác, nói đến những vết tích cây cối và động vật bị chết cứng đột ngột dưới lớp băng đá rất dày trong những trận thiên tai đời thượng cổ. Khi Dẫn-đạo-sư nói đến lục địa trên vùng đại dương ngày nay, hoặc nói đến biển cả ở nơi đất liền hiện tại, tác giả cũng tìm được tài liệu khoa học chứng minh sự biến đổi đó.

Dẫn-đạo-sư nói rằng loài người bắt đầu sinh ra trên trái đất cách đây từ 5 đến 7 triệu năm. Người Bắc Kinh (là bộ xương cổ xưa tìm thấy tại vùng Bắc Kinh) được coi là bộ xương người xưa nhất mà các nhà bác học ước đã được 500 ngàn năm. Nhưng khi cuốn sách này sắp được xuất bản (1976) tác giả được biết các nhà khảo cổ đã tìm thấy tại miền đông Phi Châu, những xương bàn tay người ba triệu năm trước và xương sọ người một triệu rưỡi năm trước. Bác-sĩ Donald Johnson nói rằng sự xem xét hơn ba chục xương bàn tay và cổ tay rải rác trên một sườn đồi cho thấy rằng bàn tay có thể cử động như bàn tay người thời nay, chứ không như bàn tay của hai loài đười-ươi (gorilla và chimpanzee) là loài khỉ gần giống người hơn cả, hai loài này vẫn phải chống tay xuống đất để đi. Ðiều nhận xét này loại bỏ thuyết của khoa học cho rằng người và khỉ cùng chung một thủy tổ.

Bác sĩ Duane Gish cũng tìm thấy tại một lòng sông vùng Texas có vết chân người in vào đá gần vết chân khủng long.(có lẽ xưa là đất, lâu ngày đất ấy trở thành đá).  [Khủng long (dinosaur) là một loài vật khổng lồ thời tiền sử, thuộc loài thằn lằn, có khi dài đến 30 thước (100 ft) cao hơn 5 thước (18 ft), thường chân sau rất lớn, chân trước rất nhỏ, đuôi lớn và dài, cổ ngắn đầu to, hoặc cổ dài đầu nhỏ.]

Ðiều này chứng tỏ loài người đã có sớm hơn là người ta tưởng, vì các khoa học gia vẫn cho rằng khủng long đã tuyệt chủng nhiều ngàn năm trước khi có người. Những người thái-cổ đã phải phấn đấu kinh khủng với những vật khổng lồ trong nhiều triệu năm sống chung với chúng.

Trong cuốn này, các dẫn-đạo-sư nói đến ba thiên tai, một trong đó là nạn trái đất đổi trục đã khiến cho vùng đại-lục Lemuria chìm xuống dưới Thái Bình Dương, đồng thời loài khủng long bị tuyệt chủng. Tác giả nghi ngờ rằng sao trái đất còn tồn tại được qua một tai nạn lớn lao nhường ấy, nhưng sau được biết các khoa-học-gia hiện đại đã nói Bắc-cực và Nam-cực đã có nhiều lần thay đổi vị trí trong thời gian ngàn triệu năm qua.

Dẫn-đạo-sư cũng đồng ý với Edgar Cayee {Edgar Cayee là một người Mỹ, làm nghề chụp hình, nhưng có khả năng tự thôi miên. Khi ông thức tỉnh chỉ là một người thường, không hiểu biết gì hơn người khác, nhưng khi ngủ thôi miên, ông rất sáng suốt, có thể:

- Nói rõ nguyên nhân bí hiểm bệnh tật của một bệnh nhân và cách chữa, trong khi các bác sĩ đều chịu bó tay.

- Nói ra những hành vi qúa khứ của một người trong những đời trước, đã đưa đến hậu quả là những khổ nạn mà người ấy phải chịu ngày nay.

- Nói về những biến cố lớn trong quá khứ và tương lai.

Ông đã qua đời vào khoảng 1945, thọ hơn 70 tuổi. Ông còn để lại hơn 30 ngàn hồ sơ về các buổi thôi miên của ông.} rằng gần cuối thế kỷ này sẽ có một lần trái đất đổi trục nữa, nhưng lần này có điều đáng mừng hơn là đáng sợ, vì tai nạn ấy sẽ đem lại một nền hòa bình, bởi lẽ nhân loại sẽ có quá nhiều vấn đề kiến thiết phải lo, không còn đầu óc nghĩ tới tham vọng đất đai của kẻ khác.
 

 

I. THUỞ SƠ KHAI

 

Trong Thánh-Kinh (Bible) có câu: "Thuở sơ khai, Thượng-Ðế tạo ra Trời và Ðất". Nhưng thế giới từ đâu mà có, và trước đó là gì? Dẫn-đạo-sư nói rằng: Trước đó chỉ là sự trống rỗng sâu thẳm quá sức hiểu biết của con người. Không có hỗn mang, không có tiếng động, không có yên tĩnh, không có gì cả. Thế nhưng cái Mãnh-lực mà ta gọi là Thượng-Ðế vẫn có luôn luôn ở đó, vì khôngcó Thượng-Ðế thì không có vật gì, không có động lực, cũng không có cả cái không có.

Hỏi: cái Mãnh-lực ấy từ đâu ra? Dẫn-đạo-sư thành thật nói: Chúng tôi không thể trả lời câu hỏi ấy, vì lẽ trước khi phát sinh ra linh hồn con người thì chưa có cuốn sổ thiên nhiên (Cuốn sổ nầy theo như tôi hiểu, là cuốn sổ vô hình, mà ta thường gọi là sổ Thiên Tào, ghi chép tất cả các việc ở thế gian không thiếu xót việc gì. Các nhà Tiên tri là những người có thần nhãn có thể xem thấy cuốn sổ ấy và biết được những việc quá khứ vị lai. Cũng thế, tất cả hành động của một người từ bao nhiêu đời trước đều được ghi vào trong tâm thức, mà kinh Duy thức gọi là A-lại da thức hoặc thức thứ tám, thức ấy bất diệt và mang theo kho tàng phúc tội từ đời nầy sang đời khác theo luật luân hồi nhân quả.)

Cho đến khi Thượng-Ðế đặt những hành tinh vào quỹ-đạo, tạo nên tác động và sự hòa nhịp, thì linh hồn chúng ta chỉ là những phần tử của Toàn Thể, không có sự linh hoạt và hiểu biết. Nhưng Mãnh-lực ấy vẫn có đó, Thượng-Ðế vẫn có đó, vẫn có ở đó cái trí thông minh hoàn toàn khôn khéo, ngoài tầm hiểu biết của tâm trí con người.

Cái Mãnh-lực ấy bắt đầu tác động, và những ý nghĩ nẩy sinh ra trong Ðại-Thể ấy, để rồi trở thành sự thực. Từ những nguyên tử hợp thành mảnh li-ti, rồi những mảnh li-ti cuốn vào nhau quay theo chiều hướng nhất định, dần dần đến những khối lớn trở thành hành tinh xoay quanh những mặt trời do từ lực hút dẫn.

Vài hành tinh dần dần khô cứng vỏ ngoài, sinh vật vi-tế hiện ra, trước còn đơn giản như những tế bào, sau phức tạp hơn như trứng, tinh trùng và bào thai. Từ Mãnh-lực ấy, gọi là Thượng-Ðế, bắn ra hàng triệu triệu tàn lửa, mỗi tàn lửa là một linh hồn bao quanh Ðại-Thể, mỗi linh hồn được tự do đi theo ý muốn của mình. Theo các Dẫn-đạo-sư, tất cả chúng ta được tạo nên cùng một lúc trong lần bùng nổ tàn lửa đầu tiên ấy, sau đó không có tạo ra linh hồn nào nữa, và cho tới nay có nhiều linh hồn còn chưa bước vào đời vật chất.

Lúc phôi thai, các linh hồn là những tàn lửa nhỏ do Thượng-Ðế phóng ra, cũng như những đứa trẻ chập chững đi bên cạnh cha, đều ngây thơ như nhau. Rồi sau có một số lang thang ra ngoài đường chính như những đứa trẻ mất nết, muốn thử sức mình mà không theo khuôn khổ của Thượng-Ðế. Nhân đó, những tính xấu như ghen ghét, tham vọng, phát sinh và càng ngày càng tăng trưởng.

Nói đến sự cấu tạo lên vũ-trụ, dẫn-đạo-sư viết: Có nhiều chuyển biến trong thời gian trái đất dần dần đặc cứng. Ðầu tiên là khí, rồi đến nước, rồi đến đất, đến cỏ cây, đến sinh vật, rồi những linh hồn nhập vào sinh vật hưởng thú ăn, ngủ, sinh sản, rồi bị ràng buộc vào thân hình vật chất.

Rồi Mãnh-lực mà ta gọi là Thượng-Ðế lại sinh ra một loại sinh vật trình độ cao hơn, có bàn tay, bàn chân, và xương đứng thẳng, với khối óc lớn hơn, có thể phân biệt thiện ác, và có thể điều khiển thú vật, chim cá, nhờ thông minh hơn. Mới đầu mọi sự đều tốt đẹp, sau vì họ được tự do làm theo ý muốn, những sinh vật ấy phối hợp với những linh hồn đã nhập vào thân súc vật, mà sinh sản ra những loại bán-nhân dị-hình, như người có móng chân ngựa, có đuôi, sừng, vây cá, lông chim. Ðó là các hậu quả thương tâm của sự cố ý bất tuân lệnh Thượng-Ðế. Những bán-nhân ấy xưa kia nhan-nhản trên trái đất, nay còn nhớ lại là những thân hình chân ngựa mình người (contaur), thần dê (salyr), người đuôi cá (mermaid). Một số đã được tạc hình trong các ngôi mộ cổ Ai-Cập, những thân hình người có sừng, có móng vuốt, có cánh, hoặc bộ phận bất thường khác. Ngay cả đến tượng thần Sphinx tại Ai-Cập, là một trong những kỳ quan thế-giới, cũng được tạc với mặt người, thân sư tử và có cánh. Những thân hình ấy, không nên coi là chuyện thần thoại, mà là có thực, do lỗi lầm nguyên thủy là sự phối hợp với loài vật.

Tại sao những người đầu tiên ấy lại phối hợp với thú vật, cá và chim? Dẫn-đạo-sư nói: Thoạt kỳ thủy, mỗi linh hồn là một thư-hùng lưỡng-thể, có đủ cả âm-lực và dương-lực, cũng như Thượng-Ðế. Một linh hồn có thể tự ý muốn ở trong một xác thân bao lâu cũng được, hàng ngàn năm, vì thế không cần sinh sản. Nhưng sau có những linh hồn bị ràng buộc vào thân xác thịt và phối hợp với loài vật, nên cần phải đặt ra một hệ-thống để cho con người có thể sinh sản riêng giống người và thỏa mãn nhu cầu phối hợp. Nhân đấy, một linh hồn nhập vào thân xác thịt được chia làm hai, tức là hai nửa, và chỉ khi nào hết đời vật chất trở về cõi tâm linh, hai phần mới lại nhập một. Linh hồn đầu tiên nhập vào thân hình người là Amelius, là một cá thể hoàn toàn. Nhưng đến khi Amelius trở lại thì thành ra hai phần Adam và Eve.

Tác giả nhắc lại lời Edgar Cayee cũng nói đến tên Amilius, hai chữ khác nhau về chính tả, vì Edgar Cayee chỉ "nói" lên trong lúc thôi-miên, còn dẫn-đạo-sư đã đánh thành chữ nên chính xác hơn.

Tập quán thông thường coi đàn bà ở địa vị thấp hơn đàn ông. Thực ra việc sinh con đẻ cái cực kỳ quan trọng. Vả chăng mỗi chúng ta khi trở lại trái đất, lấy thân hình hoặc nam hoặc nữ, vậy vinh dự không dành riêng cho phái nào. Ngay chính Thượng-Ðế là một cá thể hoàn toàn, chẳng phải nam, chẳng phải nữ; chúng ta gọi là Cha, chỉ là theo tập quán thông thường.

Sự sinh ra những người đầu tiên là một biến chuyển cực kỳ quan trọng, không những vì trình độ trí khôn và thân hình con người cao hơn tất cả các sinh vật khác, mà còn vì chính một phần tâm linh của Thượng-Ðế ở trong đó, khiến con người, với sự tự do làm theo ý muốn, có thể đạt đến quyết định sau khi suy luận, điều này hoàn toàn không có trong loại vật. Y được chọn con đường y đi, được thương yêu và được thù hận, vì y là một phần của Thượng-Ðế, nên y có thể tạo ra ý nghĩ rồi đem ý nghĩ đến chỗ thực hiện. Như vậy, con người trở lên một cá tính, nhưng vẫn là một phần của Toàn Thể Vĩ Ðại, vậy thì ghét bỏ hay khinh khi một người khác tức là thù hận chính mình và cả Tạo Vật. Mỗi chúng ta là một phần của Toàn Thể Nguyên Thủy, và bị tách ra cho đến ngày chúng ta được hợp trở lại với Thượng-Ðế.

Những lời Dẫn-đạo-sư nói cũng tương tự lời của Edgar Cayee và những nhà siêu-hình-học khác, vì lẽ tất cả sự việc đều ghi vào sổ thiên nhiên, và những tâm linh sáng suốt được đọc sổ ấy, đều được nói lên sự thật như nhau. Edgar Cayee cũng nói rằng Amelius là thiên thần đầu tiên nhập vào thân hình người, và một số linh hồn đã làm trái ý muốn của Thượng-Ðế mà phối hợp với cầm thú, khiến cho những quái vật được sinh ra. Sự kiện này đã tiếp diễn trong nhiều ngàn năm.

Nhưng từ khi linh hồn người được phân chia ra nam nữ để sinh sản ra cùng giống, Thượng-Ðế đặt ra luật khiến cho loài người không thể sinh ra con cái khi phối hợp với loài khác. Năm giống người được vào trái đất cùng một lúc, mỗi giống có một mầu da riêng biệt để thích hợp với ánh nắng mặt trời và hoà đồng với hoàn cảnh (Từ trước tôi không khỏi thắc mắc, sau khi đọc truyện Adam và Eve, rằng ai là thủy tổ của loài người. Theo kinh Thánh (Bible), Ðức chúa trời (God) đã tạo ra trời đất cỏ cây động vật và sau cùng là người trong sáu ngày. Người đầu tiên Adam và Eve sinh ra tại vườn Eden ở trong khu vực Assyria-Euphrates, tức là vùng tây Á châu từ Ðịa trung hải đến vịnh Ba tư. Ðến khi cháu Adam đời thứ 20 là Abram (sau đổi là Abraham) vì nạn đói phải đi sang Ai Cập, và cháu Adam đời thứ 23 là Joseph bị các anh bán sang Ai Cập, thì thấy rằng người Ai Cập không phải là dòng-dõi Adam. Theo tập Exodus là Jehovah (chương 6) "là Ðức Chúa Trời của người Do Thái" (The Lord of the Hebrews, chương 3), vậy Ðức Chúa Trời trong Kinh Thánh chỉ sinh ra người Do Thái, chứ không sinh ra người Ai Cập. Ngoài ra, còn người Á châu da vàng, người Âu châu da trắng, người Phi châu da đen, người Mỹ châu da đỏ, ai đã sinh ra? Nay đọc cuốn sách nầy, dẵn đạo sư nói có năm giống người được sinh ra tại năm nơi với màu da khác nhau, như thế có lý hơn.)

Từ đấy mặt địa cầu càng ngày càng đông người ở. Những tâm linh ở trong thân hình người ấy có thể giao tiếp với nhau bằng ý nghĩ, và cũng có thể tự ý thoát ra khỏi từ lực của trái đất, để tạo lên những vật rất to lớn và di chuyển vật ấy từ nơi này đến nơi khác. Thực ra họ có thể phân tán ra và kết hợp lại những nguyên tử, nên với phương pháp giản dị này, ta thấy có những đầu khổng lồ trên Cù-lao Easter (Easter Island) (Easter Island là một cù lao trên Thái Bình Dương thuộc Chi Lị (Chile)), kim-tự-tháp lớn tại Ai-Cập, và nhiều di tích khác của một nền văn minh cao hơn ngày nay rất nhiều.

 

II. NGƯỜI TRÊN TRÁI ÐẤT

 

Các nhà siêu-hình-học đều công nhận rằng Ðại-lục Mu, cũng tên là Lemuria, trong quá khứ, là nơi phát nguyên nền văn minh. Ðại lục ấy là một vùng đất đai rộng lớn đi từ bắc California đến nam Peru, bao gồm một phần lớn Thái Bình Dương, mà những đảo Hawaii, Tahiti, Polynesia và Easter là những di tích còn sót lại. Từ miền tây California, bấy giờ thuộc bờ biển của Lemuria sang đến Bắc mỹ, là biển cả, trong đó có vùng Hồ Mặn (Great Salt Lake) tại Utah. Lưu vực sông Mississippi là bờ biển phía tây của lục địa Hoa Kỳ ngày nay. Nhưng khi Lemuria bị chìm xuống và đất nhô lên thành dãy núi Rocky và Appalachian, thì trong một thời gian, sông Mississippi đổ vào những Ðại Hồ (Great Lakes), trước khi một thiên tai khác, một lần nữa, thay đổi địa thế.

Các dẫn-đạo-sư ước rằng người thái-cổ đã có ở trên trái đất từ năm đến bảy triệu năm, sau khi những bán-nhân thô lỗ đã được sinh ra từ nhiều triệu năm trước. Người đầu tiên là Amelius có thân hình nhẹ nhàng, có thể hiện diện tức thì tại bất cứ nơi nào trên trái đất. Amelius và những người sau cũng có thân hình nhẹ như thế, đều có khả năng chuyển ý nghĩ thành sự thật, và di chuyển những vật nặng bằng cách phân tán ra và kết hợp lại những nguyên tử của vật ấy. Chính amelius cũng là một ý nghĩ của Thượng-Ðế chuyển thành sự thật.

Theo dẫn-đạo-sư nhiều người thái-cổ cao trên ba thước rưỡi, và những loài thú, cá, chim, phối hợp với họ để sinh sản ra những con dị hình to lớn, một số những con này có nhiều tài lạ khiến chúng được tôn thờ trong thần thoại Hy-Lạp và La-Mã.

Trong thời Amelius sống trên trái đất với hình thể nhẹ nhàng, con người không bị bám chặt trên mặt đất vì sức hút của từ lực, nên không nặng nề. Amelius là một thư-hùng lưỡng-thể, nghĩa là có đủ âm lực và dương lực, là một người mẫu hoàn toàn, chỉ trừ không thể ăn uống, tiêu hoá và sinh sản, bản năng này chỉ được phú cho người sau này khi đã được phân chia nam nữ. Những người bất tử đầu tiên ấy luôn luôn ở trong tình trạng trẻ trung không già không chết như người vật chất. Họ muốn đến đâu là tức thì đến đó, cũng như hình ảnh ti-vi được thấy tại tất cả mọi nơi nếu có máy thích hợp. Họ ở Atlantis, Lemuria, ở Mỹ Châu, Á châu, ở đâu họ cũng tìm cách an ủi và dạy bảo những kẻ dị hình.

Ðến khi Thượng-Ðế đặt ra luật loại nào sinh sản ra loại ấy, khiến cho không thể trộn lẫn hai loại khác nhau, thì người không còn phối hợp được với thú, chim, cá và sinh sản ra loại dị hình nữa. Từ khi có Adam và Eve đầu tiên đã phân chia nam nữ, sinh sản loài người lan tràn trên mặt đất, và thời kỳ vàng son trên Lemuria lý tưởng quá sức tưởng tượng của người hiện đại, đến nay đã hơn bốn triệu năm.

Những người đầu tiên sinh sản nhanh chóng, vì sự sinh nở tự nhiên không khó khăn, nên có nhiều phụ nữ sinh mấy chục con trong đời họ. Sự hoà nhịp với thiên nhiên được hoàn toàn nên không có tật bệnh, và họ có thể ở trong thân hình rất lâu. Nhưng về sau họ bị ràng buộc vào vật chất, nên thể chất họ trở thành nặng nề hơn và khả năng bảo vệ đời sống giảm dần đi.

Từ khi trái đất dần nguội lạnh, vỏ ngoài co lại thành những nơi lồi lên lõm xuống, những lồi lõm ấy đã thay đổi nhiều lần, khiến nên nơi này đất liền chìm xuống biển, nơi khác đất từ biển nổi lên. Dẫn-đạo-sư nói rằng gần cuối thế kỷ này một thiên tai như thế sẽ xảy ra, nhiều lục địa sẽ biến thành biển cả và biển cả trở thành lục địa, nơi băng giá sẽ nóng bức và vùng nhiệt đới sẽ đông lạnh. Một số nhà địa-chất-học cũng công nhận rằng trái đất đã thay đổi trục nhiều lần trong qúa khứ, bằng chứng là thấy có vết tích cây cối, động vật và khủng long dưới những lớp băng đá dày tại nam bắc cực. Bác-sĩ Frank Hibben ước tới bốn mươi triệu thú vật đã bị chết cứng đột ngột trong lần đổi trục cuối cùng trước đây.

Dẫn-đạo-sư khuyên những ai lo sợ thảm họa ấy hãy nhớ rằng đời sống vật chất chỉ là đời sống mỏng manh. Mục đích của chúng ta là thực hiện sự toàn thiện, để cho không phải trở lại đời vật chất nữa. Càng bám vào của cải trần gian thì càng cản trở bước tiến của tâm linh. Trong đời sống tâm linh, của cải không có nghĩa gì, vì mọi vật đều do ý nghĩ sinh ra, muốn gì có nấy tức thì. Những ai lo sợ hủy diệt vật chất, nên biết rằng thân xác tuy mất, nhưng linh hồn vẫn còn tồn tại đời đời.

Lý do duy nhất năm giống người khác nhau được tạo lên là để giúp cho con người thích nghi với khí hậu. Màu da của người da đen cần để che thân dưới mặt trời gay gắt miền nhiệt đới, và cũng để dễ dàng ẩn náu trong rừng rậm âm u của Phi-Châu. Người da trắng ở nơi giá lạnh mùa đông tuyết phủ, cần ít mầu sắc để che thân dưới ánh mặt trời xiên nghiêng. Mầu nâu được dành cho những người ở vùng bán-nhiệt-đới Thái Bình Dương nhiều gió bão. Màu đỏ để hoà đồng với đất đỏ châu Atlantis và châu Mỹ. Sau cùng mầu vàng cho người phương đông hợp với đất vàng và mặt trời ít gắt. Mỗi giống có một thủy tổ Adam hay muốn gọi tên gì cũng được, và một Eve tượng trưng cho sự tạo thành con người hoàn toàn có bộ phận loài vật.

Dẫn-đạo-sư đồng ý với Edgar Cayee rằng Amelius tái sinh là Adam và Eve, cả hai đều tái sinh nhiều triệu năm sau là Jesus và Mary. Về điểm dẫn-đạo-sư ước từ năm đến bảy triệu năm từ khi có người thái-cổ trên trái đất, tác giả vẫn còn thắc mắc cho đến ngày 31-10-1975 được đọc một bài báo Associated Press như sau: "Các nhà bác học đã tuyên bố hôm qua rằng xương người cổ xưa nhất đã được tìm thấy tại một lòng sông khô cạn miền đông Phi Châu. Những răng và xương hàm đã hóa thạch của 11 người đã được ước lượng chính xác bằng kỹ thuật phóng xạ, có từ 3.350.000 đến 3.750.000 năm. Ðây là di tích cổ xưa nhất thế giới.

 

III. ÐẠI LỤC LEMURIA

 

Trong buổi sơ khai của nền văn minh trên đại lục Lemuria, những loại cây có nhiều đời sống không khó nhọc. Sau vì nhân số gia tăng, những người thái-cổ phải cố gắng để có thêm thực phẩm. Trước còn là đời sống vô định, nay đây mai đó, về sau họ phải gom hạt giống để trồng loại cây có nhân như hạt dẻ. Nông nghiệp bắt đầu từ đó, và là một bước tiến phi thường, cũng như ngày nay bay lên mặt trăng.

Nhiều dân Lemuria làm nghề đánh cá và tỏ ra có tài trên mặt biển. Thoạt đầu, họ ở những vùng bờ biển, rồi sau di chuyển vào nội địa. Họ nuôi cừu (trừu) và gia súc mà họ coi như là anh em, nhưng khi dân số càng đông thì họ giết để ăn thịt. Tuy rằng đa số cao lớn hơn người ngày nay rất nhiều, nhưng trong thời kỳ thí nghiệm ấy, cũng có những người nhỏ bé hơn người lùn bây giờ. Tất cả những người ấy đều ưa thích hát và nhảy múa theo nhịp sáo và nhịp trống.

Những người Lemuria đầu tiên có đời sống tâm linh cao. Họ hòa nhịp với Thượng-Ðế, nghĩa là hiểu những gì Thượng-Ðế truyền dạy bằng cách truyền tư tưởng. Dần dần họ bị ràng buộc vào trái đất, khiến thân hình nặng nề hơn, và con mắt thứ ba, là mắt sáng suốt hiểu biết mọi sự, bắt đầu lu mờ. Một số sống thanh đạm, ăn dè dặt, và luôn luôn tưởng niệm đến Tạo-Hóa, nên vẫn có thể thông cảm với Thượng-Ðế. Họ không dự vào những thú vui của người trần tục để giữ cho tâm linh họ gần với Thượng-Ðế. Họ dạy bảo dân chúng những điều trong sạch, ngay thẳng, nên được dân chúng kính nể và chia sẻ hoa lợi mùa màng với họ. Từ đấy phát sinh giới thầy tu đầu tiên.

Những người cao siêu ấy còn giữ được khả năng phân tán nguyên tử và di chuyển những tản đá lớn. Ðến đây, tác giả hỏi đến nguyên lai những đầu khổng lồ trên cù lao Easter. Dẫn-đạo-sư nói: Ðó là những tản đá rất lớn đánh dấu nơi công trường vĩ đại mà dân từ khắp nơi trên đại lục Lemuria kéo đến tụ họp trong những cuộc đại lễ. Những đầu to lớn ấy với những nét mặt khác nhau tượng trưng các vị thần, mỗi vị ngự trị trên một phạm vi riêng biệt và hướng về một phương trời. Những đầu ấy được dựng lên trong thời sơ khai, khi con người chưa bị ràng buộc vào sức thu hút của từ lực, và như thế được tạo lên dễ dàng.

Dẫn-đạo-sư kể lại một sự tích về những khối đá khổng lồ ấy. Trong thời kỳ giới thầy tu được nhiều uy tín, có những kẻ ghen ghét muốn làm giảm uy tín ấy. Họ thách đố những thầy tu trong ngôi đền tại vị trí hiện nay của cù-lao Easter: Ai có thể di chuyển một cái đầu khổng từ nơi này qua nơi kia thì sẽ được nhận đồ dâng cúng và được quyền ưu đãi hơn người khác. Những kẻ thách đố xảo quyệt ấy đã biết cách di chuyển những vật to lớn bằng một phương pháp huy động tinh thần gần như thôi miên, góp sức nhiều người cùng nhau tác động. Một số đông tụ họp lại, và đến giờ đã định họ đều bước tới, niệm câu thần chú, và cùng nhau ghé vai vào dưới cằm một cái đầu bằng đá, nâng bổng lên được vài phân, nhưng rồi kiệt lực đều té cả xuống. Ðến lượt các thầy tu, họ dùng khả năng phân tán nguyên tử, cùng nhau hát lên, ngước mắt nhìn trời, cử động bàn tay ( Có lẽ là hộ thần là bất quyết), tức thì đầu đá khổng lồ biến mất. Tất cả đám đông hoảng hốt kêu lên: "Trả lại đầu đá cho chúng tôi." - Xin vâng, thầy tu vừa nói xong, đầu đá hiện ra trên một ngọn đồi khác. Những kẻ thách đố xấu hổ, và từ đấy uy tín các thầy tu càng cao.

Thời bấy giờ có những linh hồn từ các hành tinh khác đến thăm. Mặc dù họ mang hình thể khác hẳn trên hành tinh của họ, nhưng họ có thể biến thành hình người thái-cổ khi họ đến trái đất. Vì những thân hình của họ nhẹ gần như bóng sáng, cũng như Amelius và những người thái-cổ đầu tiên, nên họ có thể đi về trong thời gian ý nghĩ phóng ra. Dẫn-đạo-sư giải thích rằng vì họ có khả năng phân tán và kết hợp nguyên tử, nên họ thoát ra ngoài ảnh hưởng từ lực của trái đất, họ nhẹ hơn không khí, tùy ý muốn biến hiện chính thân mình hoặc những tản đá lớn lúc nào cũng được, đến nơi nào cũng được. Những kim-tự-tháp Ai-Cập và các di tích khổng lồ khác đã được tạo dựng lên bằng phương pháp ấy.

Ðại lục Atlantis là một nơi thiên đường không nóng không lạnh, dân chúng thuộc giống người da đỏ, và cũng có những bán nhân thân hình thô kệnh, là dòng dõi của những người đã phối hợp với cầm thú. Không như người Lemuria chịu khó dạy dỗ và nâng cao những kẻ dị hình ấy, người Atlantis đối đãi với họ như những con vật để khuân vác nặng nề và làm những việc ti tiện.

Văn minh trên lục địa Lemuria lên đến cực điểm. Nền giáo dục rất cao, những người trưởng thành có trình độ ngang với tiến sĩ ngày nay, nhiều người còn tiến xa hơn về cảm giác và ý thức. Chính quyền rất dịu dàng, hòa hoãn, hàng ngày ít việc làm vì không có tội ác, không có thù hận. Nếu ai có điều bất hòa nhất thời với một người khác, thì người trọng tài giải thích rõ ràng quan điểm của đôi bên. Không người nào bị giam vào tù ngục, vì người ấy có thể thoát ra khỏi tức thì, bởi lẽ ai cũng có thể chuyển ý thành sự thực. Hình phạt về một hành động sai lầm chỉ là lời khuyên nhủ khiến họ hiểu tính chất của điều lầm lỗi và tránh không tái phạm.

Về luật luân hồi nhân quả, dẫn-đạo-sư nói rằng luật ấy đã có từ trước khi linh hồn nhập vào thân xác thịt. Ðó là luật trời, nếu ai làm trái thì phải đền tội. Amelius và những người sinh ra cùng thời đầu đã hiểu luật ấy. Một số vì cám dỗ mà giao hợp với cầm thú đã gây nhân xấu nó theo chúng ra ngoài thân xác cho đến thân sau, khi đời sống đã bị Thượng-Ðế rút ngắn. Khi tái sinh ra thành những Adam, Eve và thân hình khác, họ đã phải cố gắng xoá cái nợ luân hồi ấy bằng cách đối xử tốt với loài vật. Nhưng bấy giờ Satan lợi dụng cơ hội để điều khiển những kẻ làm sai ý muốn của Thượng-Ðế. Vị thần sa ngã ấy quyến rũ những linh hồn xấu xa, càng ngày càng đông bộ hạ, đi ngược lại con đường dự định của Thượng-Ðế, có lúc tưởng chừng như y có quyền năng mạnh hơn cả Thượng-Ðế, nhưng không phải. Thượng-Ðế vẫn toàn năng, vẫn theo dõi kẻ lạc đường nhất thời, và khi một linh hồn biết hối cải và hồi đầu về Cha, tức thì có sự lạ chờ đón y. Do đó mà có luân hồi, là chuyện đáng buồn cho người đời cứ phải trở lại nhiều lần vào cái thân vật chất, nhất quyết rửa sạch vết xấu xa trong tâm thức. Một số linh hồn đã tiến cao đến toàn thiện, đã hoàn tất bánh xe luân hồi, không phải trở lại đời vật chất nữa.

 

IV. DÒNG-DÕI THIÊN THẦN

 

Văn minh trên trái đất chưa bao giờ lại được tiến bộ như thời vàng son trên đại lục Lemuria và Atlantis. Ða số dân chúng có trình độ trí thức cao, và nhờ sự cần cù của họ, cây cối tốt tươi bao phủ khắp mặt đất.

Nhưng không phải là tất cả đều thơ mộng. Nhờ sự phồn thịnh do sức người tạo lên, có vài giống vật sinh sản nhanh hơn loài người. Ðiểu thú khổng lồ phá hoại mùa màng, thằn lằn to lớn từ biển bò lên đầy mặt đất, và những con khủng long với thân vĩ đại và đầu nhỏ bé, hung bạo đến nỗi người phải họp nhau lại trong những khu bảo vệ chặt chẽ. Tại Lemuria tình trạng rất nguy nan, khiến người ta phải đào hầm dưới đất hoặc moi rộng hang ở sườn núi để ẩn náu.

Những con khủng long khổng lồ lang thang khắp nơi, đạp đổ cây cối, tàn hại hoa mầu, phá hoang vườn tược mà người ta tốn công trồng tỉa để có thức ăn và bóng mát. Chúng dày séo lên tất cả mọi vật trong tầm của chúng, một ngón chân của chúng có thể đè nát một đứa trẻ con. Chúng thường đánh nhau kịch liệt để tranh dành miếng mồi ngon như người hoặc thú vật. Ðuôi lớn của chúng quạt khắp rừng rậm và sông ngòi để tìm miếng ăn.

Ðể tránh các thú dữ ấy, người phải sống trong những hang mà cửa vào thấp nhỏ. Ðó là một thế giới trong bóng tối. Chỉ có đàn ông mới dám đi ra để kiếm mồi khi những thú dữ không có ở gần. Họ sống bằng thịt săn và ít rau cỏ trồng quanh cửa hầm. Phụ nữ cả đời chỉ được trông thấy bóng người đi qua cửa hang. Họ nói với những bóng ấy, tưởng đó là những tâm linh của thế giới khác đến nói chuyện với họ, không biết rằng đó là bóng của những người có thân hình như thường đứng trước họ và quay lưng ra ánh sáng. Trẻ con dám phiêu lưu ra ngoài, khi không trông thấy có con vật khổng lồ nào từ xa mới chui ra khỏi cửa hang. Mắt họ bị chói lòa vì không quen với ánh sáng mặt trời.

Những gia đình ấy hôn phối lẫn nhau trong những buổi lễ ngắn ngủi tổ chức bởi những thầy tu là những người còn nhớ đến đời sống tâm linh xưa kia. Trước mặt thầy tu, đôi trai gái nắm tay nhau, và tất cả cùng hát những câu chúc tụng. Nếu có người săn được một con vật, nhỏ như con thỏ hoặc lớn như con trâu, thì đó là một đại tiệc. Họ ăn, họ ngủ, họ nói chuyện, họ sinh sản. Ðó là đời sống âm thầm tăm tối của những người Lemuria ít may mắn.

Vậy mà họ là dòng dõi thiên thần! Trước khi một số gan dạ cố gắng trừ khử những con vật kinh khủng ấy, tưởng chừng ít có hy vọng cho sự tiến hoá của loài người.

Dẫn-đạo-sư kể lại một gia đình Lemuria chừng 20 người cả con và cháu, sống cách đây khoảng 60 ngàn năm. Họ ở trong hang đào sâu trong đất dưới một ngọn đồi, cửa hang rất thấp, ra vào phải bò, để giữ cho những con vật to lớn không thể vào được. Họ ngủ trên những chiếu đan bằng cỏ mọc quanh hang, sống bằng hạt dẻ và trái cây, đôi khi có thịt do đàn ông săn được. Họ sống trong bóng tối lờ mờ, chỉ có chút ánh sáng nơi gần cửa vào và những khi đốt đuốc, cây đuốc làm bằng mỡ những con vật đã chết, nhưng đuốc ấy tỏa nhiều khói quá chỉ dùng khi nào rất cần.

Một ngày kia, trong khi đàn ông ra ngoài săn bắn, một con khủng long to lớn đánh hơi biết có người trong hang, nó lách cái đầu nhỏ của nó vào cửa hang, cố sức cậy ra một lỗ lớn để vào. Tất cả đàn bà, trẻ con trong hang sợ hết hồn, nhưng cũng phải can đảm lấy gậy đập vào đầu nó trong khi miệng nó phun ra khói. Ðàn ông nghe tiếng ồn ào chạy về, lấy giáo nhọn đâm vào nó hàng trăm nhát cho đến khi nó chết. Rồi mấy chục người ở những hầm quanh đấy phải họp nhau lại lôi xác nó ra xa vừa để tránh mùi hôi thối, vừa để những con vật khác khỏi đến gần.

Ðó là cảnh sống hằng ngày của những gia đình thời bấy giờ, luôn luôn ở trong tình trạng sợ hãi. Họ ao ước được thấy cảnh đẹp bên ngoài, cũng như ngày nay một người già bệnh tật ao ước được lên cõi trời. Chỉ có những người đánh cá là không phải ở trong cảnh sợ hãi tối tăm ấy, vì vùng bờ biển cây cối thưa thớt, những con khủng long và mam-mút (là loại voi khổng lồ có nhiều lông và ngà cong lên) thường không lui tới. Nhưng vì đông dân cư quá nên chỉ có một số ít được hưởng cái tự do ấy.

Thật là một ngày quan trọng vô cùng khi một chiếc máy bay đầu tiên đáp xuống hồ Chalda trên đại lục Lemuria, đem lại hy vọng cho những kẻ khốn khổ, dòng dõi của những bậc trí thức cao mà ngày nay sa xuống gần ngang súc vật, với đời sống trong tăm tối không có tương lai. Họ hết sức vui sướng khi được biết rằng những người Atlantis muốn cộng tác với họ để triệu tập một đại hội thế giới bàn cách trừ khử những con vật khổng lồ.

Máy bay có thể đáp xuống bãi biển không sợ nguy hiểm, vì những con vật khổng lồ không ở nơi bãi cát. Khi những người Atlantis đầu tiên đặt chân lên Lemuria, tin tức lan ra rất nhanh trên khắp đại lục, phá tan không khí buồn tẻ trong nhiều thế hệ. Tin tức được loan ra bằng hệ thống một loại dây leo truyền âm do một nhạc khí tựa như cái trống của bộ lạc Phi Châu, trống nọ truyền đến trống kia đi xa hàng trăm dặm. Những người mới đến chào hỏi người Lemuria như là những anh em lâu ngày mới gặp lại nhau. Người Lemuria chạy vội đến nơi đón khách quý, vui mừng khôn tả.

Khi người Atlantis nói đến những điều mới lạ trên đất họ, người Lemuria sụt sùi khóc, vì cảm thấy khác biệt một trời một vực giữa cảnh xa hoa của người và cảnh khốn khổ của mình. Chẳng khác nào một người mọi Phi Châu chưa bao giờ bước chân ra khỏi làng, nay được nghe tả cảnh phồn hoa Nữu Ước và Luân Ðôn. Một số những người niên trưởng Lemuria đi theo đám quý khách trở về Atlantis để cùng họp với những người từ các nước phương xa đến hội. Atlantis có nhiều tàu, nhiều khinh-khí cầu, nên việc triệu tập dễ dàng nhanh chóng, và những thanh niên được đưa đi học về kỹ thuật và hóa học.

Phi công lái chiếc máy bay tên là Drofus. Cùng với y có hai nhà bác học để điều khiển quả cầu pha lê nhỏ trong máy bay cho phù hợp với một tia sáng của quả cầu lớn trung ương. Ðây là một phương pháp tinh vi mà ngày nay không ai hiểu được. Muốn bay từ Lemuria hoặc một nơi khác xa Atlantis, thì phải sửa soạn rất công phu, để điều hợp quả cầu nhỏ trong phi cơ với một tia sáng của quả cầu lớn, khiến cho phi cơ tự động theo hướng mà bay trở về. Nguyên tắc những quả cầu pha lê có nhiều mặt phẳng đã bị chôn vùi với đại lục Atlantis, ngày nay không ai biết cách tạo lên và xử dụng những quả cầu ấy.

Người Atlantis bấy giờ là những người tốt bụng. Họ thấy đời sống khốn khổ mà những con vật khổng lồ đã gây cho người Lemuria, họ thúc giục những người này di cư sang nước họ, và họ dạy cho cách đóng những chiếc tàu lớn để có thể đi xa. Nhưng họ không cho ai biết bí mật Quả cầu Pha lê, nó giúp họ điều động các máy bay và tàu ngầm của họ. Vì họ có phương tiện vận chuyển nhanh chóng tiện lợi, nên những lần triệu tập hội đồng cũng được nhanh chóng.

Có những máy bay loại nhẹ chở vài ba người, buộc vào một quả cầu, chỉ cần một khu nhỏ để đáp xuống và bốc lên, lại có bộ phận điều khiển luồng gió, đại khái như máy trực thăng ngày nay, để di chuyển gần. Những máy lớn và mạnh hơn điều khiển bằng tia sáng loại laser do Quả cầu Pha-lê phát ra, cần phi đạo dài hơn, như máy phản lực hiện thời. Những sân bay được xây tại nhiều nơi để chở người đi dự hội và để tiếp tế hàng hóa, vì khi ấy Atlantis giữ địa vị lãnh đạo trong việc sáng chế và sản xuất các loại hàng. Lemuria trong những ngày cuối được coi như một bà mẹ khôn ngoan và dịu hiền, cố gắng dạy bảo những nước nhỏ, nhưng bọn này ưa thích đời sống tối tân của Atlantis hơn là triết lý của Lemuria. Ðiều này khiến chúng ta nghĩ đến bọn trẻ tại Hoa-Kỳ ngày nay.

Trong những hội họp quốc tế, có người đưa ra ý kiến dò tìm đến tổ những con vật khổng lồ để diệt con nó ngay khi còn nhỏ. Người Atlantis chế ra một hơi độc để "thổi" vào tổ chúng khi thuận chiều gió, cách ấy tỏ ra có hiệu quả với những con nhỏ, nhưng không đủ sức sát hại những con lớn. Dẫn-đạo-sư tả khí cụ được dùng tựa như cặp đũa để tìm mỏ hay mạch nước ngày nay, nhưng tinh vi hơn nhiều, để tìm ra tổ khủng long và mam-mút, những đũa ấy giúp cho những người liều mạng đi tìm đích xác vị trí và thổi thuốc vào tổ nó. Những người gan dạ đã đi tìm khắp các nơi trên thế giới.

Cuộc chiến đấu với khủng long và các vật khổng lồ khác đã kéo dài nhiều thế kỷ và đã có nhiều cuộc hội họp quốc tế để bàn cách giải phóng đất đai nhanh chóng hơn. Người ta đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp trong việc diệt trừ những vật khổng lồ khiến chúng đã giảm bớt, trước khi một thiên tai xảy đến, đáy biển trồi lên, lục địa chìm xuống, chôn vùi đại lục và chôn luôn cả những vật khổng lồ. Khi một giống nào làm nguy hại cho giống khác, thì giống ấy không thể tồn tại lâu bền trên trái đất. Cái luật ấy là một sự cảnh cáo cho nhân loại hiện nay đương làm cho đất đai, sông biển và không khí nhiễm độc nguy hại cho các loài khác.

Ðược hỏi tại sao Thượng-Ðế đã sinh ra những vật khổng lồ ấy rồi lại khiến cho chúng bị diệt chủng, như thế có phải là Thượng-Ðế đã lầm không? Dẫn-đạo-sư nói: Thượng-Ðế không lầm. Tạo-Hoá là một phòng thí nghiệm trường kỳ. Thoạt đầu con người cao hơn ba thước hoặc thấp hơn một thước, rồi sau trở lại trung bình hơn một thước rưỡi, và trong mấy ngàn năm gần đây lại cao hơn trước. Nhưng nếu nhân loại cứ tiếp tục nhiễm độc trái đất, làm nguy hại cho các giống khác, thì sẽ phải chịu số phận như loài khủng long. Mình được sống thì phải để cho kẻ khác cùng sống với mình, đó là luật chung của vũ-trụ, nếu chỉ phá hoại, tàn hại giống khác, sẽ không tồn tại lâu trên trái đất.

Khi những vật khổng lồ bị giảm sút dần đi, thì đời sống con người đỡ khổ, họ đã có thể hưởng ánh sáng mặt trời và gió mát. Dân số tăng rất nhanh chóng, những phụ nữ có hàng chục đứa con. Việc sinh sản không khó khăn và không cần săn sóc như ngày nay, vì đó là sự tự nhiên, cũng như loài vật sinh con đẻ trứng chẳng cần ai săn-sóc và dạy cách nuôi con.

Trẻ con lớn lên được dạy bảo nhờ những người còn nhớ đời sống tâm linh và cảm thông với các linh hồn như ta nói chuyện với hàng xóm. Chúng được dạy cho biết lý do tại sau chúng thác sinh ra đời vật chất, và chúng phải làm việc thiện để hoàn tất sứ mệnh theo luật Trời. Những bậc cha mẹ cũng hiểu rằng con họ cũng là những linh hồn ngang tuổi với họ, đã chọn họ làm cha mẹ để học hỏi và tiến hóa trong thân xác thịt. Những trẻ con Lemuria có lẽ là những kẻ hoàn toàn nhất trong nhân loại, chúng gần như không biết đến tội lỗi đối với cha mẹ, thầy dạy và bạn bè.

 

V. NHỮNG MÁY BAY ÐỜI THƯỢNG CỔ

 

Atlantis là một đại lục huyền ảo, lý tưởng, xưa nay không đâu bằng, với rừng rậm thâm u, với cánh đồng bát ngát, với khe nước suối, và một con sông lớn ngăn cách Poserdia với phần đất đai còn lại. Thật là một cõi thần tiên! Vua Atlantis tên là Atlas tức là một Adam, vợ là Heputh.

Châu Atlantis chạy dài từ duyên hải đông Hoa Kỳ, gồm những vùng bờ biển Georgia, Carolina, Virginia, west Indies và Braril, băng qua Ðại Tây Dương đến gần duyên hải tây Phi Châu. Những vua đầu tiên là những linh hồn tiến hóa cao, còn nhớ đời sống tâm linh và có thể cảm thông bằng tư tưởng. Vua Atlas phóng những luồng điện và những người dưới bắt luồng điện ấy hiểu được ý vua không cần nói hay viết.

Nhưng đó không phải là một trạng thái thôi miên, chỉ là sức mạnh của ý nghĩ. Sức mạnh ấy tỏa ra từ Atlas qua các con cháu, trở thành năng lực linh động, từ ấy nẩy sinh ra những sáng chế kỳ lạ, chưa bao giờ có từ khi châu ấy bị chìm. Vua Atlas phóng ra một tư tưởng, những người khác bắt được làn sóng tư tưởng ấy đưa đến chỗ thực hiện ý nghĩ thành sự thật. Có như thế, những người Atlantis trong nhiều ngàn năm, đã sáng chế ra máy bay, tàu ngầm, tàu nổi, và tia điện như loại tia laser ngày nay, đưa đến một nền văn minh cao tột bực chưa từng có.

Atlas và Heputh sinh ra 24 người con và có nhiều cháu, đều có trình độ tâm linh cao. Mỗi người con là một ông Hoàng cai quản khu vực của mình. Anh quốc ngày nay nằm trong phạm vi của một khu vực, trước khi bị loạt thiên tai nhận chìm tất cả đất đai từ Hoa Kỳ đến Anh, Bồ Ðào Nha và miền tây Phi Châu. Thời bấy giờ người sống rất lâu, hàng triệu năm, nên chưa có vấn đề thừa hưởng, và chẳng bao lâu vua Atlas có hàng trăm con cháu.

Tác giả nhận thấy rằng những điều Dẫn-đạo-Sư nói trên tương tự với sự tích Atlantis mà nhà học giả Hy-lạp trứ danh Plato đã để lại cho văn minh tây phương. Plato được biết sự tích ấy do luật gia đại tài Solon ở thành Athens 600 năm trước kỷ nguyên, ông nầy đã sang Ai-Cập mười năm và đã học nhiều sự tích Atlantis do các thầy tu thành Sais, thủ đô Hạ Ai Cập. Theo Plato kể lại, vị thần Poseidon sinh ra năm đứa con trai sinh đôi, người con trưởng là vua Atlas có nhiều con cháu tiếp tục trị vì vương quốc trong nhiều thế kỷ.

Dẫn-đạo-Sư nói thêm rằng Atlas là con cháu là dòng giống thuần túy không bao giờ ô nhiễm vì chung sống với những bàn-nhân đã có từ lâu trên Atlantis trước thời Atlas. Người Atlantis coi những bàn-nhân thô lỗ ấy như loài vật để làm việc nặng, như khuân vác, cày bừa, và sau nầy vận chuyển máy móc.

Tuy có sự phân biệt giữa hai hạng người và bàn-nhân, nhưng lúc đầu họ không cảm thấy bị lạm dụng, vì mỗi bên đều làm hết sức mình. Nhưng mấy chục ngàn năm sau, sinh ra có sự tranh chấp, không những giữa người và bàn-nhân, mà còn ngay chính giữa loài người, vì bấy giờ đã mất quan niệm họ hàng và quan niệm đồng nhất. Khi ấy Atlas và con cháu gần đã qua đời lâu rồi, dân chúng đã đông đầy trên đại lục, đồng thời những chim và thú khổng lồ đã sinh sôi nẩy nở ra nhiều, trở thành mối đe dọa tiêu diệt nhân loại.

Ðược hỏi rõ hơn về sự cấu tạo loài người, Dẫn-đạo-Sư nói: Người ta lúc đầu chỉ là những hình bóng do ý nghĩ của Thượng Ðế mà thành, nhưng từ khi phối hợp với loài vật sinh ra những bàn-nhân, thì bị ràng buộc vào mặt đất. Khi Thượng Ðế sinh ra nam và nử là hai phần của linh hồn. Ngài dùng những chất liệu ở mặt đất để tạo thành những thân hình xác thịt, như đã tạo nên loài vật và các sinh vật khác, các nguyên liệu căn bản vẫn thế: khí, nước, đất, kim thạch, sinh tố. Thân hình người ta là sự sáng tạo tối cao, cũng bằng cùng những thứ vật liệu như các hình thể khác trên trái đất nầy. Xin chớ nghĩ rằng Tạo Hóa có hai bàn tay lớn từ trên trời thò xuống cạo đất xét trộn với nước, kim thạch, cây cỏ. Thực ra chỉ là ý nghĩ của Thượng Ðế dùng những vật liệu thích hợp tạo nên hình một sinh vật hoàn toàn.

Atlantis trong nhiều ngàn năm được những vua và hoàng tử sáng suốt nối tiếp nhau trị vì, mưu lợi ích chung. Rồi sau, người Atlantis hành hạ những bàn-nhân, gọi chúng là lao động nửa người nửa vật, cũng như người Mỹ miền nam trong thời kỳ đồn điền hưng thịnh, những trại chủ hành hạ người da đen bị bắt từ Phi Châu tới để làm nô-lệ. Những bàn-nhân xấu số ấy thường ở với nhau, nên dòng giống không khá lên được. Họ ở trong những túp lều, trong khi người Atlantis giống da đỏ sống xa hoa, với đủ đồ trang bị tự động do sức mạnh của quả cầu Pha-lê thu hút năng lực của mặt trời phát ra. Người Atlantis có đầu óc sáng tạo, thích thí nghiệm tất cả các loại khí (hơi), kim thạch, thảo mộc, và họ dùng những bàn-nhân để làm việc nặng nhọc như khuân vác, vận chuyển, hoặc làm việc nhẹ như điều hành những công tác dưới sự chỉ huy của người Atlantis.

Dẫn-dạo-sư nói rằng những sinh linh (beings) từ ngoài không gian được hấp dẫn tới Atlantis vì năng khiếu sáng tạo của những người ở đấy, và đã dành nhiều thì giờ đàm luận với họ. Những quý khách không gian ấy đã giúp nhiều trong việc tạo nên Quả cầu Pha-Lê vĩ đại. Nhờ sức mạnh lớn lao của Quả cầu ấy mà những máy bay, tàu nổi, và tàu ngầm được duy chuyển với một tốc độ kinh khủng. Lúc đầu sức mạnh ấy được dùng vào việc ích lợi chung, nhưng về sau lại dùng vào việc phá hoại.

Quả cầu vỉ đại! cái lực lượng do việc thiện và việc ác mà Edgar Cayee đã nói đến, hiện nay còn nằm sâu dưới Ðại Tây Dương khu Tam giác Bermuda, ở đấy đã có biết bao máy bay và tàu biển biến mất một cách bí mật trong những thập niên gần đây.(Xem chương. IX. biển Sargasso bí mật)

Những khách không gian đã dạy cho người Atlantis đã tạc nên Quả cầu khổng lồ, sau khi họ đã bắt đầu chinh phục được năng lực bằng những quả cầu nhỏ để điều khiển những đồ trang bị. Trên một sườn đồi, họ tìm thấy một mạch đá thạch anh (quart) đủ lớn để phản chiếu tất cả tia sáng của mặt trời và mặt trăng, vì mặt trăng cũng dự phần vào cuộc thí nghiệm lớn lao ấy. Sau khi đã dục bỏ hết đất bám chung quanh,họ khắc những mặt phẳng rất tỉ mỉ để phản chiếu tất cả các tia sáng. Thời bấy giờ bầu khí quyển hoàn toàn trong sạch, nên tia sáng không bị thiên lệch. Vì họ sản xuất năng lực thừa dùng hàng ngày, nên họ tìm cách tích trữ năng lực còn dư vào những thùng lớn bằng đồng, để cho các máy bay và tàu không phải tùy thuộc vào sự cung ứng năng lực mỗi ngày.

Những khách không gian ấy đến trái đất bằng những phi thuyền tuyệt xảo. Có nhiều loại máy bay khác nhau, phần lớn có những đĩa và những máy xoay tròn để không bị sức hút của từ lực khi cất cánh và hạ cánh. Ðến nơi họ chuyển những vật liệu lấy ở trái đất thành khí chất để làm ra điện lực. Những người Atlantis theo mẫu ấy đã sáng chế ra những máy bay và tàu chuyển động bằng năng lực do Quả cầu vĩ đại phóng ra.

Theo Dẫn-đạo-Sư, vì có những thú vật khổng lồ càng ngày càng đông, nên người Atlantis đã phải tập trung vào những khu có tường thành bao bọc, và nhu cầu đã thúc đẩy tài sáng tạo của họ. Vì họ là dòng dõi những "linh hồn nhẹ hơn không khí", nên họ còn giữ được khả năng giao tiếp với thế giới tâm linh và sáng tác ra những kỳ quan mà thế giới chưa từng thấy.

Tại sao những người không gian đến Atlantis mà không đến Lemura? Dẫn-đạo-Sư nói: Ðó là gì cái lẽ đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, cùng có óc sáng tạo như nhau thì dễ gần nhau hơn.

Những khách không gian và người Atlantis đã phải mất nhiều năm mới tạo nên Quả cầu khổng lồ, và cái gương phản chiếu để chứa đựng quả cầu đó. Rồi họ sáng chế những tàu, máy bay, cả loại máy đứng yên một chỗ trên không trung như máy trực thăng ngày nay. Với những máy nầy họ đã học được địa đồ những vùng rộng lớn trên trái đất. Một số họa đồ ấy được tìm thấy mấy trăm năm trước, cho thấy hình ảnh trái đất trước lần đổi trục sau cùng, khi mà Nam-cực không có băng tuyết.

Những họa đồ ấy đã được tìm thấy tại Thỗ-Nhĩ-Kỳ hồi đầu thế kỷ 18, là sở hữu của Ðề-đốc Thổ Piri Reis. Ðó là bản sao họa đồ rất cổ, cho thấy những dãy núi ở Nam-cực trong thời không có băng tuyết. Những nhà địa-dư học mãi đến năm 1952 dùng phương pháp đo tiếng vang mới hình dung được những núi ấy. Ngày nay đem những hình chụp từ vệ tinh so với bản địa đồ ấy thì thấy rất giống nhau.

Ðại học Georgetown trong buổi phát thanh vô tuyến ngày 26-8-1956 bình luận về địa đồ Reis, nói rằng nếu không dùng phương pháp chụp hình từ trên không trung thì không thể nào họa được địa đồ ấy.

Trong cuốn Edgar Cayee on Atlantis, chính con Edgar Cayee cũng có đề cập tới địa đồ ấy.

Chắc chắn rằng chưa ai có thể bay được hồi đầu thế kỷ 18 khi địa đồ Reis được tìm thấy. Edgar Cayee và các dẫn-đạo-sư đồng ý rằng những người Atlantis là những phi hành gia đại tài.

 

VII. ÐỜI SỐNG TRÊN ATLANTIS

 

Dẫn-đạo-sư nói: Trong một đời trước, cách đây hơn 51.000 năm, tác giả tên là Thelama, đã sống cùng gia đình trên Atlantis gần Poseidon, thành phố lớn nhất của Poseidia, trong một khu vườn trại rộng lớn có tường cao bao bọc chung quanh để tránh khủng long và man-mút. Ở đây cái nạn những con vật khổng lồ còn đỡ hơn ở Lemuria.

Những người Atlantis có mũi nhọn dài, tóc đen bóng như than, mắt đen, môi tô son, da đỏ như người thổ dân Mỹ, những nguời nầy dòng dõi người Atlantis. Không có tục bôi móng tay móng chân, nhưng họ xoa dầu lên tay, mặt và ngực để giữ cho da mềm và đỡ bị nắng rám. Quần áo họ bằng hàng dệt nhuộm màu các kiểu, đàn ông nhiều khi còn làm dáng hơn đàn bà. Răng trắng như ngọc trai và không bị sâu. Rau cỏ và trái cây họ đều ăn sống, còn thịt thì ăn nướng nhưng ít ăn trừ khi có đại tiệc. Bao giờ cũng có một ngày để lễ mặt trời và một ngày để lễ mặt trăng tròn được coi là Hoàng Hậu Ban Ðêm.

Thượng Ðế là đấng tối cao, ít khi được nói đến tên, mà chỉ tôn xưng là Ngài. Khi cần cầu đến Thượng Ðế thì chúm môi lại tròn như chữ o và phát âm thanh "o" để chỉ mặt trời, và ngậm miệng lại phát âm thanh "om"(Nhiều câu chú trong kinh Phật có chữ "Ôm", ta thường đọc là "Úm" hoặc "Án"). Nếu được như thế thì đó là căn nguyên của tiếng "Om" trong khi thiền (lời tác giả).

Cừu (trừu) được nuôi trong nhà như bạn, cũng như chó ngày nay. Chúng được buộc yên cho trẻ con cưỡi, lông được xén để ngồi gối hoặc dệt hàng mặt. Những nhà giàu hay mở tiệc có khi kéo dài hàng tuần lễ, khách từ mọi nơi được gởi thiệp mời do chim bồ câu mang đi và đem thiếp trả lời về. Họ không ăn thịt chim và cừu, coi chúng như những báo nhân. Giới cầm quyền có những lâu đài lộ thiên lan rộng ra hàng mấy trâm thước mỗi chiều, và họ cũng lịch sự tao nhã như người thời nay. Nước được dẫn bằng ống từ giếng hay từ suối trong khe núi. Người Atlantis đều thọ mấy trăm năm (Thelama thọ 300 năm) do đó họ có nhiều thời giờ để phát triển khả năng

Trong thời Thelama trên Atlantis. Quả cầu pha-lê vĩ đại và các phi cơ đã được thành hình. Thelama gặp một nhà bác học trẻ tuổi đến Poseidia từ nơi xa mà ngày nay là Alegia. Y nghiên cứu cách thu hút năng lực của mặt trời tạo ra một tia sáng kiểu laser bằng Quả cầu Pha-lê vĩ đại, để chuyển động các tàu và phi cơ đi quanh trái đất. Cha Thelama là cố vấn trong triều, mời y đến ở trong trại vì nhà y ở xa quá. Y tự phụ y là người đặc biệt, không tin có Thượng Ðế mà y không trông thấy, đã tạo ra vũ-trụ, nên không theo luật trời. Y muốn thu hút năng lực không những để chuyển động máy móc, mà còn để sai khiến mọi người, và y muốn diệt chủng những bàn-nhân, như kiểu những nhà bác học của Hitler. Trái lại, Thelama rất tin Thượng Ðế, vì thế cuộc hôn nhân đã dự tính giữa Thelama và y đã không thành.

Y trở lại Poseidon và được chính phủ cho phép nhóm của y nghiên cứu Quả cầu Pha-lê vĩ đại. Việc nầy phải mất nhiều năm và có nhiều người khác cộng tác, nhưng y là một trong những nhà bác học nổi tiếng nhất đã sáng chế ra quả cầu pha-lê. Mảnh lực hùng vĩ Quả cầu Pha-lê từ đấy đã giúp ích nhiều cho dân Atlantis, nhưng sau nầy chính nó lại tiêu diệt đại lục và đa số dân chúng.

Sự bí mật của Quả cầu là ở trong thán chất. Những người điều khiển việc kiến tạo nầy cùng ở trong một khu có đầy đủ tiện nghi và xa hoa tối tân. Họ hướng những mặt phẳng của quả cầu một cách rất tinh xảo để thu hút năng lực của mặt trời và phản chiếu ra thành tia kiểu laser để phục vụ nhân loại. Khi hoàn thành, những tia từ quả cầu phát ra có thể chuyển động máy móc trên trời hay dưới biển đi nhanh với tốc độ âm thanh. Quả cầu không được đặt tại thành phố Poseidon, mà ở gần nơi mà ngày nay là đảo Bimini, ở đó lâu lâu nó còn hoạt động.

Atlantis bấy giờ văn minh nhất thế giới về tất cả mọi phương diện, duy kém Lemuria về triết lý. Tính ham biết lên đến cực điểm, và những giải pháp được nghiên cứu theo mọi khía cạnh, trên tiến bộ nhanh chóng lạ lùng.

 

VIII. TRÁI ÐẤT CHUYỂN TRỤC

 

Những đám mây báo trước tai họa đã bao phủ trái đất cách đây khản 50.000 năm. Dẫn-đạo-sư nói rằng những sinh linh bên ngoài không gian đã trông thấy nhiều đường rạn nứt, cũng như những vệ tinh nhân tạo này nay chụp hình mây và gió bảo. Từ trước trái đất đã nhiều lần chuyển động khi vỏ ngoài dần dần nguội đi, nhưng những lần ấy không đáng kể vì chưa có loài người có hình thể vật chất, họ chỉ như là những bóng sáng có thể phóng mình đến những nơi an toàn.

Những người có tâm linh sáng suốt ở Lemuria đã biết trước tai họa sẽ đến và khuyên những ai còn muốn lưu lại trên trái đất hãy di chuyển đến những nơi an toàn hơn. Nhiều người lánh sang Á-Châu, Phi- Châu, Mỹ-Châu, mang theo giống rau cỏ, trái cây, hạt dẻ, đã trồng từ nhiều ngàn năm, và được người bản xứ đón tiếp, những người nầy coi họ là người văn minh hiểu biết hơn. Những người khác cảm thấy đời sống xác thịt đã đủ muốn trở lại trạng thái tâm linh khi thiên tai đến. Những người lánh khỏi Lemuria muốn bảo tồn nền văn hóa của họ đã tiến cao và lưu lại cho đời sau, họ có một triết lý vững vàng, chứ không phải là một cuộc tỵ nạn hổn loạn để được an thân.

Ðồng thời những người không gian cũng báo cho người Atlantis biết về tai hoạ sắp đến, mà một số người nầy lánh sang những nơi mà ngày nay là Yucatan thuộc Mễ-tây-Cơ, hoặc Ai-Cập. Li-bi, Tây-ban-Nha, Bồ-đào-Nha. Họ mở trường dạy văn chương, toán, canh nông và kỷ thuật, và cũng như người Lemuria, dựng những tòa nhà hình kim tự, vì luôn luôn họ hướng lên Thượng Ðế.

Những ngày chót của Lemuria kéo dài trong mấy trăm năm. Những người di dân đem theo kiến thức của họ về khoa chiêm tinh, vì có một số đã liên lạc với những hành tinh khác trên bầu trời và hiểu luật chuyển động của các hành tinh cũng như trái đất. Những người Lemuria dạy người bản xứ tôn thờ Ðức-Sáng-Tạo và giúp họ xây những ngôi đền hướng về Mẫu quốc: Những đền tại Mỹ châu quay mặt về huớng tây và đền tại Á châu quay mặt về hướng đông. Tục nầy vẫn còn tồn tại nhiều ngàn năn sau. Người ta nhận thấy những đền ở Mể-tây-Cơ hướng về phía tây, và đền Angkor Wat (Ðế Thiên Ðế Thích) tại Cao-Miên hướng về phía đông. James Churchward nói rằng đã khám phá những chữ khắc tại hai nơi giống nhau. Dẫn-đạo-sư nói rằng thời ấy không có hàng rào ngôn ngữ, tuy giọng nói khác nhau chút đỉnh nhưng vẫn hiểu nhau.

Rồi đến khoảng 48.000 năm trước kỷ nguyên, thiên tai kinh khủng đã xẩy đến. Những hỏa-diệm-sơn phun lửa, mặt đất rung chuyển tựa như một tờ giấy bị vò nát, trái đất giao động mạnh và đổi trục, nước biển dâng lên khiến toàn thể Lemuria chìm mất dạng, chỉ còn lại vài nơi cao như Hawaii, Cahiti, Polynesia và một số đảo khác.

Ðịa dư thế giới thay đổi trong chớp mắt, và sau đó trong một thời gian dài, sương mù dày dặt bao phủ trên nơi đất liền xưa đã nuôi sống bao nhiêu triệu người và sinh linh khác. Nhiều khu đồng bằng nay đã thành núi cao khe thẳm. Những khu thành phố lớn ở Peru và Mể-tây-Cơ xưa kia gần ngang mặt biển, nay vọt lên cheo leo lưng chừng trời cao hai ba ngàn thước. California ngày nay là bờ biển đông của Lemuria, đã thoát khỏi nạn lụt nhờ dính vào địa lục mới là miền tây Hoa Kỳ ngày nay từ đáy biển nổi lên. Nhiều đám đất mới cũng nổi lên tại Âu-Châu và Sahara xưa là đáy biển nay trở thành vùng đất phì nhiêu.

Còn Atlantis thế nào? Không thay đổi mấy. Một phần đất miền tây chìm xuống, trong khoảng từ bờ biển đông Hoa Kỳ đến Brésil ngày nay. Vì đường xích đạo thay dổi, nên khí hậu lý tưởng của Atlantis trở thành nóng bức, ảnh hưởng đến tính tình con người.

Khi những vùng nóng ấm trở thành đông lạnh, và những nơi băng tuyết thành nhiệt đới, những con khủng long không quen với sự thay đổi thời tiết đột ngột, đã chết hàng vạn, thân hình rất lớn mà đầu óc tất nhỏ nên thiếu trí nhớ. Cả những con vật khổng lồ ở dưới nước, trên cạn và trên không cũng không sống nổi. Nhiều tàn tích khủng-long còn nguyên vẹn đã được đào thấy tại vùng bắc cực. Ngày nay chỉ còn vài loại to lớn ở sâu dưới biển, nhưng không nguy hại cho loài người nữa.

Người tuy cũng chết rất nhiều vì trái đất đổi trục, nhưng nhờ thông minh hơn nên một số còn sống sót và bắt đầu công việc tái tạo. Ðất phì nhiêu có nhiều nên không có vấn đề nhân mản, vì số người bị tiêu diệt khi ấy gần bằng số toàn thể nhân loại ngày nay.

Nếu thực như thế thì điều này trả lời câu hỏi của một số người thắc mắc về luật luân hồi, rằng nhân số ngày nay càng ngày càng tăng nhiều hơn xưa thì những người ấy từ đâu mà ra? Lịch sử của chúng ta mới bắt đầu từ mấy ngàn năm, đâu có biết được thời tiền sử.

Cù lao Easter, một đồi cao xưa là thánh địa thiêng liêng nhất của Lemuria, đã tồn tại an toàn. Những người trước kia di cư sang Mỹ Châu bắt đầu kiến thiết lại những thành phố với những ngôi đền tại Mễ-tây-Cơ và Leru. Ngày nay có những nơi người ta đào thấy được nhiều lớp thành phố chồng chất lên nhau do những thiên tai liên tiếp nó đã chôn vùi những thành phố ấy. William Niven, một nhà khảo cứu mỏ, hồi đầu thế kỷ đã đào bới tại một nơi gần thành phố Mễ-tây-Cơ (Mexico city) và đã tìm thấy tàn tích của ba thành phố cổ nằm đè lên nhau qua một lớp đá cát dày chỉ mấy thước, những lớp đá cát này chứng tỏ nơi đây đã là bãi biển, mà ngày nay ở trên 2000 thước cao hơn mặt biển.

Hàng triệu hàng triệu linh hồn mất thể xác trong nạn chìm đắm Lemuria, đã trở về trạng thái tâm linh. Những hồn nào đã tiến hóa vì làm được nhiều công đức, thì không phải trở lại đời sống vật chất nữa, và sẽ tiếp tục tu tiến để trở về với Thượng Ðế, còn những kẻ đã làm việc thất đức sẽ phải luân hồi nhiều lần để học nhẫn nhục và tình thương. Một số người đương sống ngày nay là người đã ở Lemuria hay Atlantis, nhưng không phải là tất cả đều trở lại cùng một lúc hay trong khoảng vài trăn năm.

Khi Lemuria bị chìm, những người Atlantis ngạc nhiên sợ hãi, họ coi Lemuria là mẹ đẻ của nền văn minh, tuy rằng Atlantis đã tiến hơn nhiều. Những người lảnh đạo Lemuria đều là nhà triết học, canh tác và chiêm tinh, đã dẫn đầu thế giới về triết học và tôn giáo

Nay lãnh đạo tinh thần không còn, Atlantis chỉ thiên về lảnh đạo vật chất. Quả cầu Pha-lê giúp ích cho sự sáng tác rất nhiều, văn minh vật chất càng tiến thì những kỷ thuật gia càng có quyền thế. Khoa học được tôn sùng trên hết và người ta bớt tin tưởng ở Thượng Ðế. Tình trạng ấy cũng gần giống nước Mỹ ngày nay, chú trọng nhiều về máy móc, đời sống vật chất lên cao, nhưng tín ngưỡng và triết lý xuống thấp.

 

IX. BIỂN SARGASSO BÍ MẬT

 

Sau khi Lemuria chìm, Atlantis trở thành lảnh đạo thế giới, nhưng không được lòng người vì tính kiêu căng, chỉ muốn dùng võ lực để bắt các nước khác thần phục. Tuy chưa biết dùng đến chất nổ. nhưng với quả cầu Pha-lê họ có thể phóng năng lực của tia sáng mặt trời làm nổ những thành phố rất xa. Cướp bóc là sự rất thường. Những người Atlantis trong thời kỳ thứ hai này vơ vét đem về nước tất cả cái gì họ thích, từ các nơi xa Mỹ Châu, Âu Châu và Phi Châu.

Chính thể tại Atlantis trong thời vàng son là quân chủ, những quốc vương trị vì trú trọng đến đạo đức và tôn giáo. Nhưng sau khi Lemuria bị chìm, ngôi vua chỉ tượng trưng cho nghi lễ, còn thực quyền ở trong tay những nhà bác học.

Atlantis là một thành trì học vấn vững mạnh trước khi xảy ra thiên tai. Những học giả từ khắp nơi đến các trường đại học tại đó để dự lớp học về địa chất, thiên văn khoa học, toán học, canh nông. Nhiều người có thể tính nhẩm tới 11 số và có những bảng tính tiện dùng hơn máy tính ngày nay. Những tài liệu được chất chứa trong những thùng làm bằng ruột súc vật chế biến có thể tồn tại trong nhiều ngàn năm nếu được bảo trì kỹ lưỡng. Nhiều thùng ấy nay còn nguyên vẹn trong thùng tài liệu chôn dấu không xa Kim-tự-tháp lớn tại Giza, về hướng thần tượng Sphinx. Có những thùng khác được cất tại Yucatan. Hình trái đất được chụp theo một phương pháp không giống ngày nay. Radio bấy giờ đã có, tiếng nói được truyền bằng sự phản ứng của đá thạch anh (quartz) trên chất kim khí và điều khiển bởi những mặt phẳng của Quả cầu Pha-lê.

Trong 20.000 ngàn năm sau trận thiên tai, Atlantis dần dần suy đồi, bên trong mục nát, chỉ nhờ có Quả cầu Pha-lê mà còn giữ được uy thế đối với các nước. Nhưng không phải là tất cả các nước đều chịu thần phục. Những dân ở nơi mà sau này là Ba Tư hợp với Hi-Lạp chống lại Atlantis. Người Atlantis dùng Lybia làm căn cứ để tấn công Hi-Lạp nhưng bị đánh lui, và khi họ tập trung lại lực lượng để tấn công lần nữa thì một thiên tai kinh khủng xảy đến làm thay đổi lịch sử.

Những nhà bác học tăng cường năng lực của Quả cầu Pha-lê, và để khuất phục những dân Á Châu ở cách xa nửa vòng địa cầu, nơi mà ngày nay là Trung Hoa, Họ dọi tia sáng xuyên qua trái đất, khiến cho vỏ trái đất nổ tung nhận chìm hầu hết đại lục Atlantis và luôn cả Quả cầu Pha-lê.

Vùng ấy ngày nay gọi là biển Sargasso. Vùng biển bí mật này, phần lớn nước đứng, với nhiều rêu biển nổi trên, trong nhiều thế kỷ đã được mệnh danh là "Nghĩa địa của Ðại-tây Dương"! Xưa những tàu buồm qua đó đều biến mất dạng, rồi sau những tàu có động cơ cũng vậy. Quá trưa ngày 5-12-1945, một đoàn 5 chiếc phi cơ Hãi quân Grumman TBM-3 Avenger cất cánh từ căn cứ Fort Lauderdale, Florida, để tập dợt, do 5 phi công lái với 9 phi hành đoàn. Ðoàn phi cơ gọi là Phi vụ 19, do trung úy Hãi quân Charles C. Taylor, một phi công với trên 2500 giờ bay, điều khiển. Chừng 70 phút sau, sau khi bay qua phía bắc đảo Bimini, một phi công bay trên phi trường Hãi quân Fort Lauderdale, nhận được tính hiệu lạ lùng của phi cơ điều khiển. Phi công nầy bị lạc, cả hai địa bàn đều hư, Rồi những tính hiệu bị loạn, căn cứ không thể liên lạc được với người nào trong số 14 người trên 5 phi cơ. Ngay sau đó, một phi cơ hai máy Martin Mariner với phi hành đoàn 13 người cất cánh từ căn cứ Hãi quân Banana River để tìm 5 phi cơ lạc và dẫn họ về căn cứ. Nhưng rồi sau không nhận được tính hiệu nào của cả 6 phi cơ, và mặt dù một cuộc tìm kiếm vĩ đại chưa từng có gồm hơn 300 phi cơ, 4 khu trục hạm, 18 tàu tuần, mấy chiếc tàu ngầm, hàng trăm phi cơ và tàu của tư nhân, và cả phi cơ và tàu của Anh đóng tại quần đảo Bahama, không tìm thấy một vết tích nào cả, không một vết dầu, không một phao hoặc một mảnh vụn.(Những bí mật của vùng này đã được nói đến trong cuốn, "khu tam giác Bermuda" (The Bermuda Triangle). Tác giả Adi-Kent Thomas Jeffrey đã kể rõ tên 12 chiếc tàu, một tàu ngầm nguyên tử và hơn một chục phi cơ được ghi nhận đã mất tích tại đây từ 1609 đến 1968,không để lại một dấu vết gì: mảnh gổ, mảnh áo, hay vết dầu trên mặt biển, mặc dù rất nhiều tàu và phi cơ qua lại tìm kiếm.).

Charles Berlitz trong cuốn "Khu tam giác Bermuda" (The bermuda triangle) nói ranh giới biển Sargasso chạy dài từ 200 dặm phía bắc đảo Antilles lớn, dọc theo và cách bờ biển Hoa Kỳ 200 dặm tới mỏm Hatteras tại North Carolina, rồi thẳng ra Ðại-tây-Dương đến Phi Châu và Bồ Ðào Nha, ngược lên hướng bắc rồi trở về Mỹ, ranh giới nầy hợp với ranh giới mà dẫn-đạo-sư đã nói về Atlantis.

Khu tam giác Bermuda nằm trên phần phía tây của biển Sargasso gần khu xưa kia đặt Quả cầu Pha-lê. Berlitz nói rằng trong một phần tư thế kỷ vừa qua, hơn một ngàn nhân mạng đã mất tích tại đó, không để lại một vết tích gì của những phi cơ và tàu thủy. Dẫn-đạo-sư giải thích rằng Quả cầu Pha-lê vẫn còn nằm dưới biển Sargasso, và khi mặt trời và mặt trăng đến một vị trí nào đó, ảnh hưởng đến Quả cầu, khiến cho những tia phát ra làm nguy hại cho tàu biển và phi cơ đi qua tầm những tia ấy.

Vụ nổ đã xé đại lục Atlantis mạnh hơn một triệu lần sức nổ của trái bom ném xuống Hiroshima, không những đã nhận chìm hầu hết Atlantis còn gây nên bảo tố và sóng thủy triều trên khắp nửa thế giới ở tây phương trong nhiều tháng. Vụ nổ ấy đã được nhận thấy từ các hành tinh khác trên bầu trời. May mắn là những tia của quả cầu pha lê không thể xuyên qua lòng lỏng của trái đất để sang tận Trung Hoa,nên vùng nầy không hề gì. Nạn hồng thủy lớn lao đã được kể lại trong những huyền thoại của nhiều sắc tộc, như dân Do Thái trong thánh kinh.

Phần còn lại Atlantis chỉ là hai hòn đảo Poseidia và Og. Những sự di chuyển đi xa bằng phi cơ và tàu không được nữa vì những quả cầu nhỏ đều quá yếu. Vùng biển đã chôn vùi đại lục, nay như là một vũng bùn lầy đầy những tàn tích. Ðất đai mới nổi lên thì khô cằn vì chất phóng xạ, tựa như sau một vụ nổ bom nguyên tử khổng lồ. Dân Atlantis còn lại phải di chuyển đến những nơi khác và trà trộn với dân Mỹ Châu, Á Châu, Âu Châu và vùng Ðịa Trung Hãi.

Hai hòn đảo còn lại vẫn bị rung động ngầm, những hỏa diệm sơn thi nhau bùng nổ, rồi sau hai đảo ấy cũng chìm nốt xuống biển.

Thiên tai này xảy ra khoảng 12.000 ngàn năm trước, chỉ còn lại vài hòn đảo nhỏ như azores và Bahamas.

 

X. THẾ GIỚI THỜI TIỀN SỬ

 

Trong thời Lemuria toàn thịnh, một số dân đã đến lập nghiệp tại vùng đồng bằng Á Châu, nơi mà ngày nay là Gobi. Họ liên lạc với mẫu quốc bằng ý nghĩ và cũng bằng tàu thuyền. Họ sống lẫn lộn với dân bản xứ da vàng, một trong năm giống đã được sinh ra từ nguyên thủy.

Triết lý là môn học được ưa chuộng nhất. Những ngôi đền đều hướng về đông, là hướng về đại lục Lemuria. Sau khi trái đất đổi trục nhận chìm Lemura và nhiều núi nổi lên khắp nơi, các thầy tu xây cất những tu viện trên núi cao, để dể hòa đồng với vũ-trụ lực. Ðể giữ truyền thống của Lemuria, họ bảo toàn văn hóa triết lý và tôn thờ Thượng Ðế. Những tu viện ấy ngày nay nằm ở Tây Tạng, và dãy núi Hy-Mã-Lạp-Sơn xưa là một phần của đồng bằng Gobi. Gobi khi ắy khí hậu ẩm ướt, đất đai phì nhiêu, ngày nay là sa mạc.

Vì Quả cầu Pha-lê của Atlantis không thể chuyển động máy bay và tàu qua một bên kia trái đất, nên không có mấy người Atlantis đến Gobi và Trung Hoa ngày nay. Nhưng vì tham vọng, những nhà bác học cầm quyền tại Atlantis muốn chinh phục vùng này, đã dọi tia sáng qua trái đất, nhưng tai họa đã đến với chính họ.

Vùng Ấn Ðộ được nổi lên sau Gobi và trước khi Lemuria chìm. Từ trước không có thổ dân,người Lemuria đến rất nhiều, coi đó như là thuộc địa, và sống chung với người da vàng cũng di dân đến. Nhiều thầy tu đến đó để truyền bá văn hóa Lemuria. Dân chúng Ấn Ðộ ngày nay là dòng dõi nhiều lớp văn minh: Thầy tu và dân Lemuria, di dân da vàng, da đen , da trắng, và những bàn-nhân tuy hình thể không giống những cùng đinh (untouchable) Ấn Ðộ ngày nay, nhưng sống ở nước thấp nhất, nhân đó cản trở công việc dân-chủ-hóa xã hội này. Vì ở đây có rất ít người Alantis, nên văn hóa không bị nhiểm độc bởi tham vọng quyền thế của họ. Nhưng khi Lemuria chìm thì người Atlantis bắt đầu đến đông.

Trong tập Bách Khoa Toàn Thư (Encydopedia Britannica) tác giả thấy có đoạn nói về Ấn Ðộ. Khi những người Aryan xâm chiếm Ấn Ðộ, họ thấy dân ở đấy văn minh hơn họ về nhiều phương diện, rõ ràng đó là những di dân từ miền đông tới (Lemuria ở về miền đông). Churchward trong cuốn "những con cháu Lemuria" (The children of Mu). Nói đến những người Naacals, 70.000 năm trước, đã đem đến đây những sách "Cảm hứng thiêng liêng về Mẫu quốc", những sách ấy được cất giữ trong một tu viện Tây-Tạng. Trong sách của người Naacal, nói đến những người Maga lập nghiệp ở Ấn Ðộ 70.000 năm trước, màu da sậm và mắt đen sắc, câu này có vẻ tả người Lemuria da màu. Lại có câu: Cũng như Ai Cập, Ấn Ðộ không bao giờ có một thời man rợ trước thời văn minh. Ấn-Ðộ là hạt ngọc trai trên trán của Mẫu quốc Lemuria.

Những người da trắng, thoạt tiên ở trong vùng Carpathe-Caucase, dần dần tràn lan về phía tây quanh Ðịa trung Hãi rồi cùng tập trung tại dãy núi Pyrénée miền nam nước Pháp. Họ cũng tràn về phía đông nam đến Ba Tư và Ai Cập. Tại Ba Tư họ lập thành dòng giống Aryan mà Ðức Quốc Xã đã tự hào là dòng dõi.Người da trắng cũng cầm quyền tại Ai Cập, quốc vương là Araaraat. Một vị cao tăng là Ra Ta theo Araaraat đến, cùng với hàng trăn người khác, lo giúp đở những người bản xứ, trong ấy có nhiều bàn-nhân được Ra Ta giúp loại bỏ những bộ phận dị hình. Ra Ta hợp tác vơi những người Atlantis tại Poseidia, dùng phương pháp giải phẩu và năng lực những quả cầu Pha-lê nhỏ còn xót lại, để loại bỏ những đuôi, móng, sừng, lông cánh, cho các bàn-nhân.

Những người Atlantis đến Ai Cập càng ngày càng đông để tránh tai nạn, vì hai hòn đảo còn lại thường bị rung chuyển, và những nhà tiên tri đoán sẽ có nạn hồng thủy nữa. Hermes, là sứ giả của Atlantis có nhiệm vụ bảo vệ những tài liệu quý giá, đã đem những tài liệu ấy đến Ai Cập và hợp tác với Ra Ta xây dựng kim-tự-tháp để cất giữ những bí mật của thời oanh liệt xưa.

Kim-tự-Tháp lớn nhất được xây dựng tại Giza trong thời gian trước và sau khi Atlantis bị chìm lần cuối, vào khoảng 10.000 năm trước kỷ nguyên, trong đó có chứa tất cả những toán số để tính vị trí các ngôi sao, kinh tuyến, vĩ tuyến và đường kính trái đất, chiều dày lớp vỏ trái đất. v.v...Kim-tự-tháp cũng có mục đích làm cái kho để chứa những bảo vật của Atlantis, nhưng vì thiên tai xảy đến nhanh chóng quá, nên những bảo vật đều bị chôn vùi dưới biển.

Nhiều người nghĩ rằng những người thượng cổ có quay hàm lớn và khối óc nhỏ. Nhưng những bộ xương cổ xưa đã được khám phá hơn 100 năm trước tại Pháp cho thấy người xưa cao hơn và xương sọ lớn hơn người ngày nay. Những người ấy đã sống quanh Ðịa trung Hãi 15 đến 30 ngàn năm trước, trán cao, gồ má cao, quay hàm nở, thân cao hai thước, không có vẻ gì giống loài khỉ. Nếu thực những người ấy là tổ tiên loài người, thì quả là người thời nay đã suy đồi hơn xưa.

Âu Châu xưa kia chỉ gồm có mấy hòn đảo Anh quốc và Na-uy, Thụy Ðiển ngày nay, còn phần lớn lục địa mới được nổi lên sau khi trái đất đổi trục. Những người Lemuria và Atlantis còn lại dần dần pha trộn giống với người da trắng tại Âu Châu, người da vàng tại Mông Cổ, người da đen tại Phi Châu, Úc Châu và các quần đảo tại vùng Nam Dương là những đất đai Lemuria còn xót lại, dân chúng ở đó lâu ngày mất liên lạc với giới lãnh đạo và thầy tu nên trở thành man rợ. Miền Nam cực trong nhiều triệu năm thuộc vùng ôn đới và nối liền với Úc Châu, trước khi bị thiên tai tách ra bằng những vùng biển rộng lớn. Người Atlantis đã họa địa đồ miền này nhưng thấy không thể ở được vì đầy dẫy những khủng long và vật khổng lồ. Khi trái đất đổi trục, những vật ấy bị tiêu diệt vì không chịu nổi cái lạnh băng giá đột ngột.

Khi Lemuria hãy còn, Alaska ở trong vùng nhiệt đới như Florida ngày nay, nhưng ít có người dám ở đó vì những khủng long và man-mút rất nhiều. Nhưng khi trái đất đổi trục, những con vật khổng lồ ấy bị chết vì băng giá, một vùng đất nổi lên bắt cầu từ đấy sang miền đông bắc Á Châu, vùng này cũng bị đông lạnh. Rất lâu về sau, mới có những bộ lạc du mục Á Châu đi phiêu lưu qua đấy, dần dần tiến xuống những vùng ấm áp hơn. Những người Á Châu ấy càng ngày càng đến đông, rồi trộn lẫn với những người da đỏ và da nâu thành những giống phụ.Những người Mễ-tây-Cơ ngày nay có vài nét mặt Á Ðông là vì cuộc di dân này từ Siberia đến vùng nắng ấm trung Mỹ.

Nhiều người Alantis lánh nạn sang Mỹ Châu, ở đây những người Lemuria đã đến từ nhiều ngàn năm trước. Ðất đai phì nhiêu, hoa màu được phân phát đều cho mọi người, không hề có sự tranh dành. Những người Lemuria bắt đầu chiếm vùng bờ biển phía tây hiện thời và xứ Yucatan (Mễ-tây-Cơ), nhưng về sau họ di chuyển đến những đất mới nổi lên tại vùng trung ương Hoa Kỳ ngày nay. Họ đã mang theo những tài liệu và xây một phòng rất kính gần thành phố Uxmad tại Yucatan để cất những tài liệu về văn minh Atlantis và về việc xây dựng một Quả cầu Pha-lê. Nhưng không một người nào còn sống sót khi đó biết cách tái tạo Quả cầu Pha-lê đã mất.

Sau khi phần còn lại của Atlantis bị chìm nốt, phòng kín ấy nằm sâu dưới nước, lâu ngày không ai còn biết đích là chỗ nào, rồi đến khi đất lại nổi lên, không còn thể nhận biết được phòng ấy đã được chôn tại đâu.

 

XI. NHỮNG THIÊN THẦN TRONG THÁNH KINH

 

Những nhà bác học nói rằng 70.000 năm trước, Bắc-cực nằm ở vùng Nam-cực, và có thể một ngày kia quay trở lại. Những tảng đá có từ lực trái ngược với từ lực của trái đất và đã được khám phá tại Ấn Ðộ, Pháp và Nhật Bản trong khoảng từ 1855 đến 1929. Trong đầu thập niên 1960, Ban Khảo Sát Ðịa Chất Hoa Kỳ đã báo cáo rằng theo sự nghiên cứu những tảng đá lớn thu thập từ khắp nơi trên hoàn cầu, thì đã có chín lần trái đất đổi trục trong thời gian ba triệu rưởi năm qua.

Trong thời vàng son của Lemuria và Atlantis, hai đại lục ấy phần lớn nằm tại vị trí Thái bình Dương và Ðại tây Dương, tuy nhiên không phải cùng vị trí đối với trục trái đất ngày nay. Phần lớn lục địa Mỹ Châu và Âu Châu còn nằm dưới mặt biển, núi non hầu như không có, cho đến khi Lemuria chìm xuống bấy giờ núi mới nổi lên như một tờ giấy bị vò nhàu. Tại Alaska có những vết tích động vật và cây cối chồng chất lên nhau như trong những thiên tai. Những thân hình man-mút còn cả thịt da và lông nguyên vẹn đã được đào thấy tại vùng băng giá bắc Sibérie, tỏ rằng những con vật ấy đã bị đột nhiên đông lạnh. Trong Bắc băng Dương quanh Bắc cực, có rất nhiều tàn tích man-mút, tê-giác, ngà voi, những giống này cần rất nhiều cây cỏ để sống, không thể nào ở những nơi quanh năm đá phủ. Rõ ràng Alaska và miền bắc Sibérie xưa kia là xứ nóng. Trái lại có nhiều bằng chứng cho thấy rằng vùng nhiệt đới Brézil và Phi Châu xưa kia bị bao phủ dưới một lớp dày băng đá.

Ðiều đó có thể giải thích tại sau, khoảng 50.000 năm trước người Atlantis với những phi cơ của họ, đã có thể chụp hình Greenland và Nam-cực khi những nơi ấy không bị băng đá bao phủ (Bản địa đồ Reis đã nói ở trên)

Trong số những thiên tai nhiều vô kể đã thay đổi cục diện trái đất, có ba lần đáng để ý hơn cả là Lemuria bị chìm 48.000 năm trước kỷ nguyên, phần lớn Atlantis bị chìm 28.000 năm trước kỷ nguyên, và phần còn lại của Atlantis bị chìm nốt 10.000 năm trước kỷ nguyên. Theo dẫn-đạo-sư và Edgar Cayee, nạn hồng thủy trong Thánh Kinh trùng hợp với thiên tai thứ hai cách đây khoảng 30.000 năm.

Những thời kỳ nói trên chỉ là phỏng chừng, vì thời gian trên trái đất không nghĩa lý gì đối với thế giới tâm linh. Chỉ ước rằng những Adam và Eve hiện thân trên trái đất khoảng 4 triệu năm trước. Amelius với hình thể nhẹ vài năm trước đó, và những bàn-nhân nhiều triệu năm trước nữa.

Trong Thánh Kinh chỉ nói đến gia đình Noah, cháu Adam đời thứ 10, được thoát khỏi nạn hồng thủy, nhưng thực ra còn rất nhiều người khác nữa, mặt dù đã có hàng vạn người chết ở Trung Ðông và hàng triệu người chết tại Atlantis. Noah là tổ dòng giống Semite, các cháu chắt là Abraham, Jacob, Joseph, David rồi đến Jesus Christ.

Abraham, cháu Adam đời thứ 20, có hai con trai: Con thứ hai Isaac là con vợ cả, là dòng giống thuần túy Lemuria; con lớn Ishmaci là con vợ bé, sau này là tổ dân tộc Ả-Rập. Con cháu thứ hai của Isaac là Jacob, là tổ dân tộc Do-Thái (Jew). Dân Do-Thái vẫn giữ được truyền thống của người Lemuria và tôn thờ Thượng Ðế (GOD). Nhờ tín ngưỡng ấy, chứ không phải là nhờ có giúp đở người khác, họ được các thiên thần trợ lực tìm một xứ sở, và sau một thời gian dài lang thang rồi sống nhờ Ai-Cập, họ đã được trở về đất hứa. Theo dẫn-đạo-sư, Moses là một người Lemuria đầu thai vào dòng giống Hebrew để cứu dân tộc này ra khỏi cảnh nô lệ tại Ai-Cập.

Tâm linh (Spririt) và linh hồn (Soul) khác nhau thế nào?. Dẫn-đạo-Sư giải thích như sau. Linh hồn là cá thể riêng biệt, là Ta. Tâm linh là cái sức mạnh của đời sống rút từ nhiều nguồn tiến hóa. Khi một hài nhi nhập vào thân xác thịt, linh hồn nó qua nhiều kiếp luân hồi, đã tạo nên một cái-thể và mẫu mực ăn ở hành động trong đời sống tới. Bấy giờ tâm linh được rút vào hòa nhịp với linh hồn ấy để cho con đường đi tới được tốt đẹp hơn. Tâm linh là tinh hoa của Thượng Ðế, nhưng vì đã tách rời với đại khối từ khi bắt đầu làm người, nên có nhiều đẳng cấp khác nhau. Cả linh hồn và tâm linh đều cùng hướng về hợp với Ðức Sáng Tạo. (Tâm linh (Esprit) nói ở đây có lẽ là Tâm thức, là A-Lại- a-Thức, là Phật tính trong kinh Phật.). Ðức chúa Jesus gọi tâm linh là Ðức Chúa Thánh Thần (Holy Spririt: le saint Esprit). Không có tâm linh, chúng ta sẽ quay trở về đời xác thịt như thú vật.

Nói đến các thiên thần, dẫn-đạo-sư nói có ba hạng. Thượng thiên thần là những vị không bao giờ sinh vào thân vật chất, vì không bao giờ trái luật thiên nhiên, hoàn toàn hòa đồng với Thượng Ðế. Những vị ấy cai quản những khu vực rộng lớn trong vũ-trụ. Thứ đến những thiên thần, mà một số đã sống trong đời vật chất. Sau nhiều đời sống không tội lỗi, những vị này không cần trở lại và được ở gần Thượng Ðế. Nhưng cũng có nhiều thiên thần không bao giờ sinh vào thân xác thịt. Các thiên thần có nhiệm vụ trong việc tiến hóa của nhân loại và của các động vật, thực vật và khoáng vật.

Sau cùng là những thần hộ mệnh, là những tâm linh trước đã sống trong đời xác thịt, nay hết lòng giúp đở người sống tránh khỏi tai ương và chết bất thần. Ðây là những linh hồn quảng đại, tuy vậy chưa được tiến cao bằng những thiên thần và thượng thiên thần. Một số thần hộ mệnh giúp cho những sáng kiến, như Instein là một trạm tiếp nhận những luật vũ-trụ nên có thể trong những giấc mơ, xảy ra những ý nghĩ phi thường.

Chúng ta cũng có thể trở thành những thiên thần nếu chúng ta biết nghe tiếng nói yên lặng của Thượng Ðế bên trong chúng ta, và quay vào đó (lương tâm) trước khi quyết định hay hành sự một việc gì. Tất cả chúng ta cần phải nghe hoặc cảm thấy tiếng đó, nhưng thường thường ta vẫn quên trong khi đi trên con đường tươi đẹp của ta. Khi ở bên kia ngưỡng cửa (cõi vô hình) tự nhiên ta hiểu rõ thế nào là phải là trái, vì ta sẵn có tinh hoa của Thượng Ðế bên trong chúng ta và không bị những cám dỗ vật chất nó cạm bẫy ta. Ta hiểu rõ rằng những hành động vô ý thức trong đời xác thịt đã làm cho ta xa Ðấng Sáng Tạo. Như thế, thay vì được hưởng khung cảnh tình yêu thương thuần túy không ích kỷ mà chúng ta có thể đạt tới, ta còn phải ở đây học đi học lại những bài học trước trong những thời gian chờ đợi giữa hai đời sống trên mặt đất. Cho nên ta cần phải học sau cho có thể, phân biệt tức khắc không lưỡng lự cái hay với cái dỡ, đều phải với đều trái, như ta thuộc lòng bản cửu chương - Hãy làm việc thiện bỏ việc ác.

Trở lại tình trạng nhân loại trên trái đất từ sau khi Atlantis hoàn toàn chìm hết khoảng 10.000 năm trước kỷ nguyên, dẫn-đạo-sư nói rằng người ta dần dần tụt xuống trình độ gần như dã man vì không còn những người lảnh đạo của hai đại lục trước nữa. Những phương tiện vận chuyển như thời sơ khai. Tàu thuyền không thể đi lại được trên Ðại Tây Dương vì bùn lầy và những tàn tích nổi lềnh-bềnh. những trận thủy tai và động đất đã phá hủy các kho tàng tài liệu, và những dân tộc rời rạc quên cả lối viết đọc xưa, vì không còn tu sĩ giảng dạy, không còn người lảnh đạo tâm linh. Trừ một vài nơi như Ấn Ðộ, Ai Cập, Peru, ngoài ra dân chúng không hiểu biết gì về văn hóa. Ðó là thời kỳ đen tối.

Trong thời kỳ ấy, những thú vật được người chăn nuôi để làm việc nặng nhọc, vì những bàn-nhân hầu như mất hết, nhờ phương pháp thành công của người Atlantis và Ra Ta. Khi mọi người bắt buộc phải làm lấy các việc chân tay, họ không có thì giờ rèn luyện trí thức, nên không tiến hóa.

Sau nhiều ngàn năm thời tiền sử đen tối ấy, việc học mới lại được phục hồi tại vùng Tiểu Á. Thành Athens và một vài nơi khác quanh Ðịa Trung Hãi trở thành những trung tâm văn học.Người Ai Cập không bao giờ rập tàn ngọn đuốc, nhưng họ giử lấy riêng cho họ. Từ khi Alexander the Great truyền bá ngọn đuốc văn minh cùng với đạo quân chinh phục, Athens bừng sáng, Rome (La mã) trỗi lên và rồi sụp xuống. Lịch sử bắt đầu từ đó.

XII. NHỮNG VÒNG TÁI SANH

Những người đã quen biết nhau trong những đời trước, có khuynh hướng trở lại vòng tái sanh cùng với nhau. Các quốc gia cũng vậy, cũng cùng với nhau khi thăng khi trầm.

Vì những nền văn hóa của Lemuria và Atlantis đã tiến đến cực thịnh trong nhiều triệu năm, và vì thiện và ác luôn luôn đi sát cạnh nhau, không thể nói rằng tất cả người Lemuria cao thượng và tất cả người Atlantis tội lổi. Nhưng trong giai đoạn sau của Atlantis, có rất nhiều người quá hăng sai về kỹ thuật, đã phá hủy lục địa của họ. Edgar Cayee đã cảnh cáo rằng những linh hồn phá hoại ấy đã đầu thai trở lại rất nhiều trong nữa thế kỷ 20 này, thu hút bởi thời kỳ đặc biệt khoa học tân tiến ngày nay.

Thời kỳ phục hưng (Renaissance) tại Âu Châu trong thế kỷ 14 và 15, và thời kỳ Mỹ dành độc lập thế kỷ 18, là những thời dựng lên sự nghiệp của những người Lemuria tái sanh. Thomas Jefferson, Benjamin Franklin, George Washington, xưa ở Lemuria rồi sau ở Atlantis. Wondrew Wilson sống đời thứ nhất ở Lemuria, thuộc về giới tu sĩ. Khi trở lại Atlantis, ông là một ông hoàng trẻ trong hoàng cung, nhưng từ sớm ông đã thiên về triết học và hoạt động tôn giáo. Ông rời khỏi hoàng cung để dốc lòng vào việc họa và việc tôn thờ, nhưng trong thế kỷ 20 ông không thể lôi cuốn Clémenceau và Lloyd George theo ý kiến ông, vì hai ông nầy là người Atlantis thực tế. Winston Churchill là một người Atlantis thuần túy, rất tinh xảo về chiến trận. Franklin D. Roosevelt đã sinh cùng thời với Wondrew Wilson tại Atlantis, có tài về trị quốc. Anwar Sadat xưa cũng giữ một địa vị cao tại Ai Cập sau thời Ra Ta. Cũng đã từng thương lượng giãn hòa với các lân bang hiếu chiến. Gerald Ford xưa cũng là một nhà chính trị hòa bình tại Ai Cập và Atlantis. Bao giờ cũng có những người từ các nền văn hóa khác nhau cùng sinh ra một thời. Vì có một số nhiều người xưa đã sống trong thời kỳ sau của Atlantis ngày nay tái sinh trên mặt đất, chắc chắn rằng sẽ có những hành động hiếu chiến, bất hòa và vô nhân đạo.

Nói đến Ðông phương, dẫn-đạo-sư cho biết rằng những người đầu tiên lập nghiệp tại Gobi là những người hiểu biết đạo Trời, và có đầy lòng từ bi bác ái với tất cả nhân loại. Vì thế họ truyền lại nhiều phúc đức trên khắp vùng này bao gồm phần lớn Trung Hoa ngày nay, Tây Tạng và Mông Cổ, và sự thấm nhuần của tâm linh vào đời sống hàng ngày đã sản xuất ra những tư tưởng cao siêu chưa từng có: Khổng học và Phật học

Nhóm cầm quyền tại đó ngày nay phần lớn gồm những người Atlantis tái sinh, đã sống trên đất Gobi sau khi Lemuria chìm xuống biển, và đặt ách độc tài trên dân da vàng. Mao trạch Ðông xưa là một người Atlantis nắm quyền tại Gobi trên 10 năm đến khi bị nguời Aryan xăm lăng truất quyền. Chu Ân Lai là một người Mông Cổ theo Mao, đã bán nước cho người Atlantis. Những người cầm quyền tại Nga trong mấy chục năm gần đây cũng là người Atlantis, tuy nhiên Staline xưa là người Mông Cổ, khát máu và quyết định vươn lên bằng bất cứ cách nào, đã từng cộng tác với người Atlantis xâm lăng Gobi.

Sau khi tác giả nhận được những lời trên này ít lâu. Chu Ân Lai chết vì bệnh ung thư. Tác giả hỏi về Hoa Quốc Phong mà bên tây phương ít người biết đến. Dẫn-đạo-sư nói: Hoa Quốc Phong là một người Atlantis trong thời kỳ sau chỉ còn lại hai đảo, là một thủy thủ đi thám hiểm đến Gobi. Y yêu thương một phụ nử Mông Cổ và đem thị trở về Atlantis. Nhưng bị sợ hãi vì thấy người ta chỉ tôn thờ máy móc và sáng chế, thị thuyết phục Hoa trở lại Gobi và ở luôn đó. Hoa không phải là người Atlantis có học thức, vì hầu hết đời y sống trên mặt biển, nhưng y khôn ngoan, và khi y nghe nói một số đông người Atlantis rời bỏ quê hương vì đất rung động, y quyết định lập một tổ-chức thực dân với y làm chủ, và tuyển mộ những người mới đến Gobi. Y thành lập vương quốc riêng của y, và cai trị tất cả vùng đất thuộc Trung Hoa ngày nay đã được nổi lên thành đồi núi. Nhiều người Atlantis đã đến đó lập nghiệp, nhưng gì y đối đãi gắt gao với họ, nên họ vượt qua núi đi sang Ấn Ðộ và các vùng lân cận. Y sẽ không cầm quyền tại Trung Hoa được lâu, và sau khi Mao chết, y sẽ phải nhường quyền cho Ðặng.

Ðặng Tiểu Bình cũng là một người Atlantis có nhiều tài, xưa kia y hay đi tới Gobi, cuộc hành trình rất gian nan vì Quả cầu Pha-lê không có hiệu lực qua phần bên kia trái đất. Y có tư tưởng hòa bình, và như thế là điều tốt cho Trung Hoa và thế giới tây phương ngày nay. Y sẽ hợp tác với tây phương nhiều hơn Mao, và sẽ đưa Trung Hoa trở lại với các quốc gia thân thiện. Trung Hoa sẽ trở thành một lãnh tụ thế giới sau khi trái đất đổi trục trong hai thập niên tới, khi đất đai rộng lớn của nó sẽ bị thay đổi nghiêm trọng và sẽ giải phóng dân chúng khỏi bàn tay sắt của chính phủ.

Những người Atlantis lan tràn đến bắc Phi Châu, pha trộn với người da trắng từ vùng Caucase, phát sinh ra nền văn hóa Ai Cập ở mức độ cao. Còn những người da đen không pha trộn với các giống khác, tiến hóa rất chậm, nhưng thời của họ đã đến. Họ được sinh ra ở Phi Châu có nhiều ánh nắng, nên có màu da che chở cho họ thích hợp với khí hậu. Tại đây có ít những con vật khổng lồ và không có khủng long. Và những loài vật cũng không sinh sản quá nhiều như khủng-long và man-mút tại Lemuria và Atlantis.

Bánh xe luân hồi đã mang lại trong nhiều vòng những người xưa kia đã chung đụng với nhau, không có người nào không phải trở lại đời sống nhiều lần. Vì thế không có ai còn là thuần túy người Lemuria hay người Atlantis. Dẫn-đạo-sư nói: vì xã hội ta ngày nay đa số là những người Atlantis trong thời cuối, nên những lớp trẻ và lớp chưa đứng tuổi có nhiều hành động sai lạc như phá rối, bắc cóc, nổ bom, bạo động, ma túy .v.v... . Ngày nay là một thời táo loạn, và điềm báo trước bạo động sẽ tiếp tục trong thập niên 1980, cho đến thập niên cuối cùng của thế kỷ này khi trái đất đổi trục lần nữa. Một trận chiến tranh khác với võ khí nguyên-tử sẽ mang lại tình trạng như tại Atlantis khi năng lực của Quả cầu Pha-lê phát ra đã phá hủy châu Mỹ.

Trong thời vàng son, khi chưa có phi cơ dùng năng lực Quả cầu Pha-lê, những sự vận chuyển đều bằng tàu thuyền và xe trượt. Vận chuyển bằng xe trượt rất khó khăn vất vả, do những bàn-nhân hoặc trâu kéo trên mặt đất. Không hiểu tại sao họ không chế ra bánh xe.

Cũng như trâu, chó mèo cũng được nuôi trong nhà. Chúng thuộc giống sói, cáo, hoặc cọp, báo, sư tử, nhưng loại nhỏ hơn, nhiều hơn và trung thành với người. Ðược hỏi những loài vật ấy có hồn không, Dẫn-đạo-sư trả lời: Linh hồn loài vật thuộc về một loại riêng và cũng là một phần của tinh hoa Thượng Ðế, nhưng không phải là linh hồn người, cũng như tính linh của cây cỏ đối với tính linh của đất đá và các vật khác, mỗi loại có liên lạc riêng với Tạo Hóa. Tất cả linh hồn người là những tàn lửa từ Thượng Ðế sinh ra cùng một lúc từ nguyên thủy. Linh hồn loài vật cũng tiến hóa không ngừng, nhưng không bao giờ được thành người, cũng như chim và cây cỏ không bao giờ trở thành thú vật, vì mỗi loài ở trong một phạm vi riêng biệt.

So sánh Hoa Kỳ với Atlantis, dẫn-đao-sư nói rằng: Khi Hoa Kỳ mở cửa cho tất cả các dân tộc và trở thành một nơi chứa đựng những người nghèo từ các nước, chủng tộc và tín ngưỡng hoà tan với nhau, chúng ta sẽ trở nên mạnh mẽ. Cho tới thế kỷ này, Hoa Kỳ là một thí dụ rực rỡ của Atlantis trong thời kỳ vàng son khi mọi chủng tộc đều được hoan nghênh, và tất cả mọi người đều cố gắng tiến hóa về Tâm linh, về tinh thần và về văn hóa.

Hoa Kỳ giống Atlantis về nhiều phương diện và cần so sánh những trạng thái nó đưa đẩy lên cao cùng những trạng thái nó dẫn đến sụp đổ của đất đai mạnh lớn ấy. Chắc chắn chúng ta phải kềm hãm cái lòng ham muốn vô biên về vũ khí kỹ thuật cho chiến tranh và về địa vị lãnh đạo thế giới. Con đường đi ngày nay đưa thẳng đến một cuộc xung đột khác trong những thập niên 1980 và 1990 trước khi diễn ra tai họa chuyển trục trái đất.

Theo dẫn-đạo-sư thì tai họa này khó tránh khỏi. Nhưng theo Edgar Cayee, luật ân huệ vượt lên trên luật nhân quả. Nếu không được Thượng Ðế ban ân huệ, thì chúng ta sẽ phải trãi qua 20 năm xung đột bạo lực, đổ máu và có thể chiến tranh hạt nhân trước khi trái đất đổi trục vào cuối thế kỷ này.

 

XII. NHỮNG VÒNG TÁI SANH

 

Những người đã quen biết nhau trong những đời trước, có khuynh hướng trở lại vòng tái sanh cùng với nhau. Các quốc gia cũng vậy, cũng cùng với nhau khi thăng khi trầm.

Vì những nền văn hóa của Lemuria và Atlantis đã tiến đến cực thịnh trong nhiều triệu năm, và vì thiện và ác luôn luôn đi sát cạnh nhau, không thể nói rằng tất cả người Lemuria cao thượng và tất cả người Atlantis tội lổi. Nhưng trong giai đoạn sau của Atlantis, có rất nhiều người quá hăng sai về kỹ thuật, đã phá hủy lục địa của họ. Edgar Cayee đã cảnh cáo rằng những linh hồn phá hoại ấy đã đầu thai trở lại rất nhiều trong nữa thế kỷ 20 này, thu hút bởi thời kỳ đặc biệt khoa học tân tiến ngày nay.

Thời kỳ phục hưng (Renaissance) tại Âu Châu trong thế kỷ 14 và 15, và thời kỳ Mỹ dành độc lập thế kỷ 18, là những thời dựng lên sự nghiệp của những người Lemuria tái sanh. Thomas Jefferson, Benjamin Franklin, George Washington, xưa ở Lemuria rồi sau ở Atlantis. Wondrew Wilson sống đời thứ nhất ở Lemuria, thuộc về giới tu sĩ. Khi trở lại Atlantis, ông là một ông hoàng trẻ trong hoàng cung, nhưng từ sớm ông đã thiên về triết học và hoạt động tôn giáo. Ông rời khỏi hoàng cung để dốc lòng vào việc họa và việc tôn thờ, nhưng trong thế kỷ 20 ông không thể lôi cuốn Clémenceau và Lloyd George theo ý kiến ông, vì hai ông nầy là người Atlantis thực tế. Winston Churchill là một người Atlantis thuần túy, rất tinh xảo về chiến trận. Franklin D. Roosevelt đã sinh cùng thời với Wondrew Wilson tại Atlantis, có tài về trị quốc. Anwar Sadat xưa cũng giữ một địa vị cao tại Ai Cập sau thời Ra Ta. Cũng đã từng thương lượng giãn hòa với các lân bang hiếu chiến. Gerald Ford xưa cũng là một nhà chính trị hòa bình tại Ai Cập và Atlantis. Bao giờ cũng có những người từ các nền văn hóa khác nhau cùng sinh ra một thời. Vì có một số nhiều người xưa đã sống trong thời kỳ sau của Atlantis ngày nay tái sinh trên mặt đất, chắc chắn rằng sẽ có những hành động hiếu chiến, bất hòa và vô nhân đạo.

Nói đến Ðông phương, dẫn-đạo-sư cho biết rằng những người đầu tiên lập nghiệp tại Gobi là những người hiểu biết đạo Trời, và có đầy lòng từ bi bác ái với tất cả nhân loại. Vì thế họ truyền lại nhiều phúc đức trên khắp vùng này bao gồm phần lớn Trung Hoa ngày nay, Tây Tạng và Mông Cổ, và sự thấm nhuần của tâm linh vào đời sống hàng ngày đã sản xuất ra những tư tưởng cao siêu chưa từng có: Khổng học và Phật học

Nhóm cầm quyền tại đó ngày nay phần lớn gồm những người Atlantis tái sinh, đã sống trên đất Gobi sau khi Lemuria chìm xuống biển, và đặt ách độc tài trên dân da vàng. Mao trạch Ðông xưa là một người Atlantis nắm quyền tại Gobi trên 10 năm đến khi bị nguời Aryan xăm lăng truất quyền. Chu Ân Lai là một người Mông Cổ theo Mao, đã bán nước cho người Atlantis. Những người cầm quyền tại Nga trong mấy chục năm gần đây cũng là người Atlantis, tuy nhiên Staline xưa là người Mông Cổ, khát máu và quyết định vươn lên bằng bất cứ cách nào, đã từng cộng tác với người Atlantis xâm lăng Gobi.

Sau khi tác giả nhận được những lời trên này ít lâu. Chu Ân Lai chết vì bệnh ung thư. Tác giả hỏi về Hoa Quốc Phong mà bên tây phương ít người biết đến. Dẫn-đạo-sư nói: Hoa Quốc Phong là một người Atlantis trong thời kỳ sau chỉ còn lại hai đảo, là một thủy thủ đi thám hiểm đến Gobi. Y yêu thương một phụ nử Mông Cổ và đem thị trở về Atlantis. Nhưng bị sợ hãi vì thấy người ta chỉ tôn thờ máy móc và sáng chế, thị thuyết phục Hoa trở lại Gobi và ở luôn đó. Hoa không phải là người Atlantis có học thức, vì hầu hết đời y sống trên mặt biển, nhưng y khôn ngoan, và khi y nghe nói một số đông người Atlantis rời bỏ quê hương vì đất rung động, y quyết định lập một tổ-chức thực dân với y làm chủ, và tuyển mộ những người mới đến Gobi. Y thành lập vương quốc riêng của y, và cai trị tất cả vùng đất thuộc Trung Hoa ngày nay đã được nổi lên thành đồi núi. Nhiều người Atlantis đã đến đó lập nghiệp, nhưng gì y đối đãi gắt gao với họ, nên họ vượt qua núi đi sang Ấn Ðộ và các vùng lân cận. Y sẽ không cầm quyền tại Trung Hoa được lâu, và sau khi Mao chết, y sẽ phải nhường quyền cho Ðặng.

Ðặng Tiểu Bình cũng là một người Atlantis có nhiều tài, xưa kia y hay đi tới Gobi, cuộc hành trình rất gian nan vì Quả cầu Pha-lê không có hiệu lực qua phần bên kia trái đất. Y có tư tưởng hòa bình, và như thế là điều tốt cho Trung Hoa và thế giới tây phương ngày nay. Y sẽ hợp tác với tây phương nhiều hơn Mao, và sẽ đưa Trung Hoa trở lại với các quốc gia thân thiện. Trung Hoa sẽ trở thành một lãnh tụ thế giới sau khi trái đất đổi trục trong hai thập niên tới, khi đất đai rộng lớn của nó sẽ bị thay đổi nghiêm trọng và sẽ giải phóng dân chúng khỏi bàn tay sắt của chính phủ.

Những người Atlantis lan tràn đến bắc Phi Châu, pha trộn với người da trắng từ vùng Caucase, phát sinh ra nền văn hóa Ai Cập ở mức độ cao. Còn những người da đen không pha trộn với các giống khác, tiến hóa rất chậm, nhưng thời của họ đã đến. Họ được sinh ra ở Phi Châu có nhiều ánh nắng, nên có màu da che chở cho họ thích hợp với khí hậu. Tại đây có ít những con vật khổng lồ và không có khủng long. Và những loài vật cũng không sinh sản quá nhiều như khủng-long và man-mút tại Lemuria và Atlantis.

Bánh xe luân hồi đã mang lại trong nhiều vòng những người xưa kia đã chung đụng với nhau, không có người nào không phải trở lại đời sống nhiều lần. Vì thế không có ai còn là thuần túy người Lemuria hay người Atlantis. Dẫn-đạo-sư nói: vì xã hội ta ngày nay đa số là những người Atlantis trong thời cuối, nên những lớp trẻ và lớp chưa đứng tuổi có nhiều hành động sai lạc như phá rối, bắc cóc, nổ bom, bạo động, ma túy .v.v... . Ngày nay là một thời táo loạn, và điềm báo trước bạo động sẽ tiếp tục trong thập niên 1980, cho đến thập niên cuối cùng của thế kỷ này khi trái đất đổi trục lần nữa. Một trận chiến tranh khác với võ khí nguyên-tử sẽ mang lại tình trạng như tại Atlantis khi năng lực của Quả cầu Pha-lê phát ra đã phá hủy châu Mỹ.

Trong thời vàng son, khi chưa có phi cơ dùng năng lực Quả cầu Pha-lê, những sự vận chuyển đều bằng tàu thuyền và xe trượt. Vận chuyển bằng xe trượt rất khó khăn vất vả, do những bàn-nhân hoặc trâu kéo trên mặt đất. Không hiểu tại sao họ không chế ra bánh xe.

Cũng như trâu, chó mèo cũng được nuôi trong nhà. Chúng thuộc giống sói, cáo, hoặc cọp, báo, sư tử, nhưng loại nhỏ hơn, nhiều hơn và trung thành với người. Ðược hỏi những loài vật ấy có hồn không, Dẫn-đạo-sư trả lời: Linh hồn loài vật thuộc về một loại riêng và cũng là một phần của tinh hoa Thượng Ðế, nhưng không phải là linh hồn người, cũng như tính linh của cây cỏ đối với tính linh của đất đá và các vật khác, mỗi loại có liên lạc riêng với Tạo Hóa. Tất cả linh hồn người là những tàn lửa từ Thượng Ðế sinh ra cùng một lúc từ nguyên thủy. Linh hồn loài vật cũng tiến hóa không ngừng, nhưng không bao giờ được thành người, cũng như chim và cây cỏ không bao giờ trở thành thú vật, vì mỗi loài ở trong một phạm vi riêng biệt.

So sánh Hoa Kỳ với Atlantis, dẫn-đao-sư nói rằng: Khi Hoa Kỳ mở cửa cho tất cả các dân tộc và trở thành một nơi chứa đựng những người nghèo từ các nước, chủng tộc và tín ngưỡng hoà tan với nhau, chúng ta sẽ trở nên mạnh mẽ. Cho tới thế kỷ này, Hoa Kỳ là một thí dụ rực rỡ của Atlantis trong thời kỳ vàng son khi mọi chủng tộc đều được hoan nghênh, và tất cả mọi người đều cố gắng tiến hóa về Tâm linh, về tinh thần và về văn hóa.

Hoa Kỳ giống Atlantis về nhiều phương diện và cần so sánh những trạng thái nó đưa đẩy lên cao cùng những trạng thái nó dẫn đến sụp đổ của đất đai mạnh lớn ấy. Chắc chắn chúng ta phải kềm hãm cái lòng ham muốn vô biên về vũ khí kỹ thuật cho chiến tranh và về địa vị lãnh đạo thế giới. Con đường đi ngày nay đưa thẳng đến một cuộc xung đột khác trong những thập niên 1980 và 1990 trước khi diễn ra tai họa chuyển trục trái đất.

Theo dẫn-đạo-sư thì tai họa này khó tránh khỏi. Nhưng theo Edgar Cayee, luật ân huệ vượt lên trên luật nhân quả. Nếu không được Thượng Ðế ban ân huệ, thì chúng ta sẽ phải trãi qua 20 năm xung đột bạo lực, đổ máu và có thể chiến tranh hạt nhân trước khi trái đất đổi trục vào cuối thế kỷ này.

 

XIII. ÐI SANG TINH CẦU KHÁC

 

Nhiều nhà chiêm tinh học nói rằng người, vật, cá, chim, cây cỏ đều bị ảnh hưởng của các tinh cầu khác, trái đất có lẽ cũng vậy. Chúng ta đều biết rằng nước biển lên xuống là do sức hút của mặt trời và mặt trăng, và từ thượng cổ người ta đã biết trồng tỉa theo tuần mặt trăng. Nay dẫn-đạo-sư lại nói rằng những linh hồn cũng phải trãi qua những rung động của tinh cầu khác để hoàn bị sự tiến hóa trước khi hòa đồng với Tạo Hóa. Dẫn-đạo-sư cũng nhấn mạnh về sự cần thiết tham thiền, cả đến sau khi chết.

Khi linh hồn chưa tiến cao, thì chọn tinh cầu rung động nhẹ hơn như Kim-tinh (Venus) để chịu đựng dể dàng hơn. Những linh hồn trên Kim-tinh đều dịu-dàng, đầy lòng yêu thương và lòng tôn thờ Ðức Sáng Tạo. Trên Hỏa-tinh (mars) không khí nóng bỏng, để cho những linh hồn đốt cháy tính nóng nảy hiếu chiến, Cho nên tốt hơn là trong đời sống vật chất, cần san bằng những mối bất hòa, hơn là chịu áp lực trên Hỏa-tinh. Nhưng người nào chịu nổi áp lực ấy thì sự đốt cháy sẽ nhanh chóng hơn, và sẽ không phải ở lâu trên đó.

Trên hành tinh Uranus, có ảnh hưởng "đình chiến", những linh hồn học hỏi giàn xếp bằng cách không nghĩ đến nguyên nhân những mối bất hòa. Tuy nói vậy nhưng không phải dễ, vì những linh hồn đã thù hận nhau trong suốt một đời, nay phải luôn luôn đối diện với nhau. Nếu họ cố gắng chịu đựng trong một thời gian khá lâu trên Uranus thì mối bất hòa có thể sẽ tiêu tan. Nhưng đôi khi có những linh hồn không chịu nổi tình trạng kéo dài ấy, nên có dịp liền trở lại đời sống vật chất, nhất định giải quyết vấn đề trong thân xác thịt để có thể hoặc chiến đấu hoặc thương lượng hòa bình.

Ảnh hưởng của Neptune dể chịu hơn là của Hỏa-tinh và Uranus nhiều. Những dục vọng được xoay chiều nhẹ nhàng, khiến cho tâm hồn được yên tỉnh, nên nhiều linh hồn không muốn đi nơi khác, nhưng ai muốn được nhanh chóng hợp nhất với Thượng Ðế thì không muốn kéo dài thời gian yên tỉnh, vì những thử thách gắt gao là những cơ hội để tiến hóa nhanh chóng hơn. Sau thời gian ở Neptune, những linh hồn sẵn sàng chịu đựng thử thách gắt gao hơn như ở Uranus, Uranus là nơi mài dũa linh hồn.

Rồi dẫn-đạo-sư nói đến Mộc-tinh (Jupiter). Mộc tinh dạy cho tính tự chế ngự, đồng thời tính cương quyết theo lẽ phải, nhưng không được có tính tự phụ, Nếu người nào có cảm tưởng rằng mình cao hơn nguời khác, thì được nhắc nhở rằng mình chỉ là một vật rất nhỏ mọn, phải tùy thuộc vào một nguời mẹ mang nặng đẻ đau.

Thủy-tinh (Mercury) là thủy ngân. Trên Thủy tinh người ta có thể thấy lại hình ảnh tất cả các đời sống trước và ấn định hướng đi lên hay đi xuống trong hoạt động tương lai. Ðó là một nơi rất nhỏ để un đúc lại các nguyên động-lực trong mỗi lần giáng sinh, để cố gắng xóa bỏ trong một đời sống tất cả những nhân xấu từ xưa. Ðây không phải là một nơi nghĩ an nhàn, vì không những là phải kiểm điểm lại những lầm lỗi trong đời mới trãi qua, mà còn cả hàng ngàn đời trước. Những lầm lổi càng nhiều thì sự đau khổ càng nhiều. Có lẽ vì thế mà có những linh hồn can đảm đã chọn thân hình bất toàn, như mù, điếc, tàn tật, để trả quả cho nhanh chóng.

Thổ-tinh (Saturn) là cao hơn hết, là nơi những linh hồn đã tiến đến mức toàn thiện. Dẫn-đạo-sư không thể nói gì nhiều về Thổ-tinh, vì chưa được lên đến đó. Có những linh hồn từ Thổ-tinh trở về đã nói rằng chưa đủ trình độ còn phải trở lại để tu thêm.

Dẫn-đạo-sư nói thêm rằng nếu trong đời sống vật chất mà chúng ta đạt tới mức gần hoàn toàn (toàn thiện) thì những cuộc hành trình sang các tinh cầu khác rất là nhẹ nhàng. Tại sao phải đi sang tinh cầu khác? Vì cần phải đền bù tội lỗi đối với người khác và phải lìa bỏ thái độ ích kỷ và trịch thượng. Ðó là một phương pháp san bằng. Cho nên trong đời vật chất, cần phải thiện những ý nghĩ và hành động đối với người khác, vì việc làm ấy dễ hơn rất nhiều là phải chịu khổ não tinh thần trên các tinh cầu. Vậy tại sao không bắt đần ngay từ bây giờ phương pháp gột rửa cuốn sổ thiên nhân ấy! Hãy cân nhắc những điều thiệt hại đã gây cho người khác, rồi ngay từ bây giờ bắt đầu tìm cách chuộc lại, hoặc giúp đở những người kém ta. Nếu những người đó đã làm thiệt hại cho người ta thì cũng chẳng sao, vì đó là việc nhân quả của họ, họ sẽ phải đền bù. Hãy để mặc họ về chuyện đó, nhưng cứ giúp đỡ họ đi khi nào có thể được, hãy quên đi, tha thứ đi. Còn ở trong đời vật chất thì rất dễ, nhưng khi đã bước sang cõi tâm linh thì rất khó. Hãy xóa bỏ tội lỗi khi còn ngày giờ, hãy lợi dụng tối đa cơ hội còn ở trong xác thịt.

Retyped by Danny Ly. Repaired on 7-19-93. Copied from the original (hand writing)

 

 

Trực tuyến

Trang web hiện có:
6 khách & 0 thành viên trực tuyến

Mới nhất