Bài 5 - Vũ Trụ và Con Người

 

VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Lời mở đầu

Chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu cuốn sách “Vũ trụ và con người dưới góc độ khoa học tâm linh” của tác giả Trần Văn Đình (NXB Văn hóa Dân tộc ấn hành cuối năm 2006). Chúng tôi cho rằng, cùng với "Bàn tay ánh sáng", "Phiêu lưu ngoài cơ thể", "Quyền năng của bây giờ", nội dung của cuốn sách này chứa đựng một số điều gợi mở mang tính nền tảng đối với cả khoa học và tôn giáo trong việc mở rộng nhận thức toàn diện về con người và vũ trụ.


 

LỜI MỞ ĐẦU

Chúng ta đang sống trong một thời đại với nghịch lý đặc biệt:  khoa học - kỹ thuật của thế giới hữu hình càng đạt được những thành tựu to lớn thì các hiện tượng bí ẩn thuộc thế giới vô hình càng xuất hiện phổ biến và phức tạp. Nhiều câu hỏi bản chất về vũ trụ và con người thôi thúc chúng ta tìm lời giải đáp, nhưng vẫn bế tắc. Trong hoàn cảnh đó không ít người bi quan và sùng bái các nguồn lực siêu nhiên một cách mù quáng, số khác giữ quan điểm cứng nhắc là luôn phủ nhận hoàn toàn dù chẳng có cơ sở xác đáng. Có lẽ chúng ta nên duy trì một cách nhìn mềm dẻo và thận trọng, không vội vã chấp nhận toàn bộ và đồng thời cũng không bác bỏ triệt để khi chưa đủ căn cứ.    

Từ hàng ngàn năm nay tồn tại hai phạm trù tưởng chừng như tách rời và đối lập nhau, đó là tôn giáo và khoa học. Trong khi niềm tin của tôn giáo dựa trên những gì mà các đạo sư cao siêu nói lại qua trải nghiệm tâm linh của họ, thì khoa học chỉ căn cứ vào các số liệu thực nghiệm nhờ máy móc và những suy luận có lý. Hậu quả là sự ngăn cách giữa khoa học và tôn giáo ngày càng lớn hơn.

Có thể thay đổi hiện trạng đó? Nếu các nhà khoa học tiên phong trong mọi thời đại và những người am hiểu tâm linh từ xưa đến nay không có thái độ bất hợp tác và bài bác lẫn nhau thì có lẽ tình hình đã tiến triển hoàn toàn khác. Rất khó thấu hiểu thế giới xung quanh chúng ta một cách đầy đủ và sâu sắc nếu thiếu nhận thức cần thiết theo hướng tích hợp những thành quả nổi bật của cả khoa học và tôn giáo.

Bởi vậy, mục đích của cuốn sách nhỏ này là bước đầu gợi mở một mối nối lý thuyết khả dĩ để nhìn nhận thế giới hữu hình và thế giới vô hình thành một thể thống nhất.

Nói một cách khái quát, khoa học và tôn giáo sẽ được xem xét như những hợp phần thúc đẩy nhau phát triển. Chúng ta sẽ mạnh dạn khai thác các nguồn tư liệu tâm linh sẵn có và áp dụng những tri thức khoa học hiện đại để xây dựng một mô hình vũ trụ đầy đủ và phù hợp hơn. Điều đó sẽ dẫn đến những yếu tố lý thuyết hoàn toàn mới, dễ hiểu, mang tính đột phá, có khả năng bao quát các lĩnh vực khoa học và tâm linh, cho phép khảo sát những hiện tượng bí ẩn một cách đa dạng, có hệ thống và mở ra nhiều khả năng hoàn thiện cuộc sống con người.

 

VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần thứ nhất

Trên cơ sở các khái niệm "mật độ" và "tần số dao động" của các phần tử cơ sở cấu thành sự vật, tác giả cuốn sách nhấn mạnh đến khả năng tồn tại các lớp vật chất tách biệt nhau theo mật độ hoặc tần số dao động. Nhiều thực nghiệm tâm linh đã chứng tỏ có vô số lớp vật chất (bình diện vật chất) như vậy và chúng ta phải thừa nhận điều đó như một định đề. Một chi tiết rất dáng chú ý trong phần này là có một hệ quả được rút ra từ định đề nói về sự tồn tại một bình diện vật chất phi cấu trúc (bình diện tâm thức) mà qua tương tác của nó với các cấu trúc vật chất khác sinh ra "nhận biết" nói chung (đôi khi được gọi là "phật tính" hay "thượng đế tính").

 

- Phần thứ nhất -

THUYẾT VŨ TRỤ

ĐA CHIỀU THỰC TẠI

       Nhận xét chung

       Trong phần này chúng tôi trình bày một số điểm lý thuyết mà dựa vào đó có thể làm sáng tỏ nhiều hiện tượng bí ẩn và mở ra nhiều hướng nghiên cứu lý thú. Đầu tiên là đưa ra các khái niệm và định nghĩa có liên quan, tiếp đến là xem xét một định đề về vũ trụ, sau đó bàn luận về những hệ quả đáng chú ý và cuối cùng là điểm qua các ý tưởng đã tồn tại về vũ trụ đa chiều có mặt trong các ấn phẩm công khai.

       Vũ trụ tổng thể hay cái Một (gọi ngắn gọn là vũ trụ) là đối tượng bao hàm mọi thứ tồn tại. Việc đề xuất một lý thuyết để tiếp cận, khảo sát và lý giải tất cả các sự vật xảy ra xung quanh chúng ta dường như vượt khỏi giới hạn trí tuệ con người. Điều này có lẽ không hoàn toàn đúng như vậy. Chúng ta hy vọng là con người có khả năng tiếp cận từng bước tới mọi chân lý, kể cả chân lý về sự sống.

       Thời đại thông tin hoá xã hội hiện nay cho phép chúng ta có thể tìm được những nguồn tư liệu vô cùng phong phú và bổ ích liên quan đến các phạm trù tôn giáo và khoa học. Tất cả những gì đáng chú ý được đưa ra trong phần này đều đã được đề cập đến một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong nhiều ấn phẩm. Điều đơn giản và thực sự hiệu quả là ở đây cần phải áp dụng phương pháp xử lý các dữ liệu, tương tự như cách khai thác các kim loại quý hiếm từ quặng:  Phải chắt lọc từng gam nguyên liệu từ một khối lượng rất lớn hỗn hợp khoáng chất.

       Nội dung cơ bản được trình bày trong phần này có thể khá hợp lý về mặt định tính và còn thiếu cứ liệu về mặt khoa học thực nghiệm, tuy vậy các chi tiết cốt lõi của nó đã được tin cậy và khẳng định lặp đi lặp lại bởi những người tu luyện tâm linh hàng ngàn năm nay. Đó có thể là đặc trưng cơ bản của các thuyết liên quan đến thế giới vô hình.          

    Các khái niệm và định nghĩa

Thế giới vật lý hay thế giới hữu hình là phần nhìn thấy của vũ trụ. Mọi vật hữu hình đều có cấu tạo từ những phần tử cơ sở là nguyên tử, phân tử hay tế bào mà thực chất đều từ các nguyên tử. Nói cách khác, nếu không có các nguyên tử vật lý thì không tồn tại thế giới hữu hình.

Con người nhận biết được thế giới vật lý nhờ có ý thức thông qua các giác quan như thị giác, thính giác, xúc giác... Dưới nhãn quan của con người, thế giới hữu hình tồn tại như một tổng thể có thực với yếu tố nền tảng là các nguyên tử vật lý. Cái tổng thể đó sẽ được gọi là bình diện vật lý hay chiều thực tại vật lý.

Nếu phóng đại nguyên tử lên nhiều tỷ lần thì sẽ thấy rõ kích thước và sự rung động của nó. Gọi mật độ (vật chất) là số lượng các nguyên tử trong một đơn vị thể tích, còn tần số là số rung động của mỗi nguyên tử trong một đơn vị thời gian. Như vậy, bình diện vật lý có thể được đặc trưng bởi mức mật độ hoặc dải tần sốrung động của các nguyên tử.

Giả sử còn tồn tại vô số dạng cấu trúc vật chất có tính nền tảng tựa như nguyên tử vật lý, nhưng với kích thước bé hơn rất nhiều. Khi đó vũ trụ có thể sẽ bao gồm nhiều lớp vật chất được phân biệt bởi mức mật độ (hay dải tần số), tương tự như các sóng tuy cùng ở trong một không gian nhưng được phân biệt bởi dải tần số. Gọi bình diện vật chất hay chiều thực tại là lớp vật chất gồm những “nguyên tử” mà mức mật độ (hay dải tần số) của nó khác biệt căn bản so với các lớp khác. Rõ ràng nếu ngoài bình diện vật lý, vũ trụ còn có nhiều bình diện vật chất khác thì mức mật độ vật chất của chúng sẽ bé hơn (hay dải tần số sẽ lớn hơn) rất nhiều so với bình diện vật lý. Các bình diện vật chất như vậy (nếu có) phải trở thành trong suốt và trống rỗng đối với con người. Trong trường hợp đó có thể nói vũ trụ là đa chiều thực tại, còn các chiều đó tồn tại song song với nhau. Con người với các phương tiện kỹ thuật hiện đại chưa phát hiện ra một bình diện vật chất vô hình nào nếu quả thật chúng tồn tại.

Cần lưu ý rằng, khái niệm “chiều” ở đây có tính quy ước và chỉ liên quan đến mức mật độ (hay dải tần số) của vật chất, nó hoàn toàn khác với khái niệm “chiều” không - thời gian theo thuyết tương đối của Einstein và một số công trình nghiên cứu khác. Cũng cần phân biệt khái niệm “song song” nói trên và khái niệm tương tự đã được xem xét trong các ấn phẩm phổ biến khoa học. Ở đây vũ trụ vẫn được coi là một thể thống nhất, còn các bình diện vật chất chỉ là những bộ phận hợp thành (vũ trụ con). Trái lại, một số tác giả đã nói đến khả năng tồn tại những vũ trụ song song theo nghĩa chúng hoàn toàn độc lập nhau. 

     Định đề về vũ trụ

       Khi suy ngẫm về bình diện vật lý, chúng ta có thể đặt ra vài câu hỏi mở rộng. Ngoài các dạng nguyên tử tạo ra bình diện vật lý, còn những dạng “nguyên tử” nào khác hình thành nên các bình diện vật chất không nhìn thấy? Có hay không các bình diện vật chất với mức mật độ cực đại hay cực tiểu? Con người có khả năng chứng minh hay bác bỏ giả thuyết về tính đa chiều thực tại của vũ trụ?

Qua nhiều tư liệu tôn giáo và khoa học, dường như những lời giải đáp cho các câu hỏi nói trên đã được chuẩn bị sẵn. Các đại sư từ xưa đến nay đều đề cập đến những “tầng trời” mà ý thức họ có thể dịch chuyển tới trong khi ngồi thiền, đặc biệt những người chứng ngộ thành Phật đã cho biết:  tồn tại “tầng tâm thức” mà khi ý thức con người tập trung ở đó thì sẽ có nhiều cảm nhận siêu việt như vô hạn, trong suốt, trống rỗng, tĩnh lặng và ung dung tự tại trước mọi hoàn cảnh của cuộc sống.

Trong mấy thập niên gần đây người ta bắt đầu nói nhiều đến khả năng xuất thần của con người mà bất kỳ ai cũng có thể đạt được kết quả bằng con đường tập luyện kiên trì theo những phương pháp có sẵn. Hiện tượng xuất thần cho biết rằng, dường như con người là một hệ thống phức tạp các cơ thể hữu hình và vô hình, mỗi cá nhân có thể sử dụng ý chí của mình để tách rời chúng và chuyển dịch ý thức từ cơ thể này đến cơ thể khác trong khi thể xác ngủ bất động. Các nhà xuất thần lão luyện tin rằng, bộ não nói riêng và thân vật lý nói chung không phải là nguồn gốc tạo nên tâm trí mỗi người, chúng chỉ đóng vai trò “hiển hiện” những gì diễn ra tại các bình diện vật chất vô hình. Tồn tại bằng chứng cho thấy rằng, ở các loài động vật và thực vật cũng có mặt hệ thống các cơ thể vô hình.

Đặc biệt đáng chú ý là nhờ kỹ thuật xuất thần, nhiều cá nhân tin là đã sử dụng các phần cơ thể vô hình của mình để du hành vào các chiều thực tại phi vật lý và phát hiện được những điều hết sức mới lạ. Họ đã tỏ ra vô cùng kinh ngạc trước những gì mắt thấy, tai nghe và cảm nhận trực tiếp.  

Như vậy, con người đã biết rõ nhiều hiện tượng hướng vào các khía cạnh bản chất của vũ trụ. Việc chứng minh yếu tố nền tảng đó của vũ trụ là không cần thiết đối với những người có khả năng đặc biệt, nhưng có lẽ là nan giải đối với khoa học đương đại. Cần phải thừa nhận tính đa chiều thực tại của vũ trụ như một định đề - điều chân lý không thể chứng minh, nhưng là đơn giản và hiển nhiên, được dùng để làm điểm xuất phát trong một hệ thống lý thuyết nhất định. Sau đây là nội dung của định đề đó.

ĐỊNH ĐỀVũ trụ có vô số bình diện vật chất.

Định đề này khẳng định rằng, ngoài bình diện vật lý còn có vô số bình diện vật chất vô hình mà nhiều người đã trải nghiệm bằng cách riêng của mình. Không cần thiết phải tranh luận về điều này. Nó đã được nhiều người nhận biết. Hoàn cảnh hiện nay cũng giống như trường hợp giả định sau đây:  Nếu tuyệt đại đa số con người là mù hoặc điếc bẩm sinh, thì chúng ta cũng sẽ khó tin khi ai đó nói về sự tồn tại ánh sáng hoặc âm thanh. Vấn đề thiết thực hiện nay là phải tìm những phương pháp hiệu quả để tiếp cận và nghiên cứu các bình diện vật chất phi vật lý (không nhìn thấy).

Có lẽ thiền định và xuất thần là hai cách quen thuộc và dễ được áp dụng để thâm nhập vào các chiều thực tại khác. Chúng ta sẽ dùng NF0, NF1, NF2... để ký hiệu các bình diện vật chất theo thứ tự mức mật độ giảm dần (hay dải tần số tăng dần). Ở đây NF0 chỉ bình diện vật lý, còn NF1 - bình diện vật chất kề cận bình diện vật lý mà con người có thể nhận biết dễ hơn.

Từ lâu khoa huyền bí đã đưa ra hình ảnh về tính đa chiều thực tại của vũ trụ. Theo thuyết tâm linh, con người có quan hệ trực tiếp với 7 chiều thực tại:  cõi Trần, các cõi Trung giới (cõi Âm), Thượng giới, Bồ đề, Niết bàn, Đại niết bàn và Tối đại niết bàn, trong đó “nguyên tử” cõi Trần (khác với khái niệm nguyên tử trong vật lý học) lớn hơn “nguyên tử” cõi Tối đại niết bàn là 712 » 14 triệu lần.

Để có thể hình dung một cách giản đơn về vũ trụ đa chiều thực tại, lấy ví dụ trực giác sau đây. Trộn đều một ít sỏi và cát, sau đó đổ vào một cái bình đầy nước, tiếp đến bơm thêm không khí vào bình. Như vậy, không gian trong bình chứa đồng thời cả sỏi, cát, nước và không khí. Chúng ta có thể nói rằng sỏi, cát, nước và không khí tồn tại song song với nhau trong bình. Đặc biệt, lớp không khí hầu như trongsuốt và trống rỗng đối với các lớp còn lại.      

    Các hệ quả

Xuất phát từ định đề nói trên, chúng ta sẽ suy ra một số hệ quả chủ yếu có quan hệ với các luận thuyết tôn giáo và khoa học. Nội dung cụ thể của những hệ quả đó ít nhiều là phù hợp với trải nghiệm tâm linh của các đại sư và các cứ liệu khoa học mà chúng ta đã biết. 

Hệ quả 1: Bình diện vật lý có mức mật độ vật chất lớn nhất.

Thật vậy, do vũ trụ có vô số chiều nên tồn tại một bình diện vật chất với mức mật độ dày đặc nhất. Điều hợp lý là bình diện vật chất như vậy có tính hữu hình đối với con người. Theo định nghĩa, đó chính là bình diện vật lý.

Cần lưu ý rằng, khái niệm “hữu hình” ở đây được biểu thị ở chỗ có thể nhìn thấy trực tiếp (ví dụ với các vật rắn thông thường) hoặc gián tiếp (ví dụ với sóng điện từ, không khí, “lỗ đen”). Rõ ràng, vật chất của bình diện vật lý có các dạng cấu trúc thay đổi rất phức tạp, trong số đó có các vật vô cơ và hữu cơ, các vật vô sinh và hữu sinh. Như vậy, bình diện vật lý chịu sự biến đổi không ngừng.

Một câu hỏi đơn giản được đặt ra:  Sự tồn tại của bình diện vật lý có điểm kết thúc hay không? Dự đoán câu trả lời là có. Sự kiện là ở chỗ vũ trụ có nhiều “lỗ đen” - vùng không gian với lực hấp dẫn cực mạnh, có khả năng hút mọi vật chất ở gần, kể cả ánh sáng (trừ một số tia đặc biệt, ví dụ tia X). Tất cả các nguyên tử vật lý có lẽ đến một lúc nào đó sẽ bị hấp thụ vào các “lỗ đen”, đây chính là thời điểm mà bình diện vật lý chấm dứt tồn tại. Trong trường hợp đó các nguyên tử vật lý được phân rã thành những cấu trúc “mịn” hơn và hoà nhập vào các bình diện vật chất NF1, NF2... 

Hệ quả 2:   Tồn tại một bình diện vật chất phi cấu trúc.

Thật vậy, do vũ trụ có vô số chiều thực tại nên suy ra sự hiện diện một bình diện vật chất với mức mật độ cực tiểu (hay dải tần số cực đại). Căn cứ vào nhiều ghi chép tâm linh kéo dài hàng ngàn năm đề cập đến những trải nghiệm của các đại sư, có thể xác định bình diện đó không chứa bất kỳ cấu trúc vật chất nào từ bé đến lớn. Nói cách khác, trong bình diện vật chất phi cấu trúc chỉ tồn tại những “hạt” vật chất nguyên sơ hay lớp năng lượng nguyên thuỷ của vũ trụ. Chúng ta sẽ gọi bình diện vật chất này là bình diện tâm thức hay chiều tâm thức. Tên gọi này có nguồn gốc tôn giáo. Ở đây từ “tâm thức” có nghĩa là vật chất phi cấu trúc.

Như sau này chúng ta sẽ thấy, bình diện tâm thức có vai trò nền tảng đối với toàn bộ vũ trụ. Sự tồn tại và hiệu ứng kỳ diệu của nó đã trở thành yếu tố trung tâm của nhiều thuyết tôn giáo từ xưa đến nay. Căn cứ vào điều kiện phi cấu trúc vật chất và các ghi chép tâm linh, có thể liệt kê một loạt tính chất siêu việt sau đây của bình diện tâm thức:

1) Thuần khiết - bình diện tâm thức chỉ gồm các “hạt” nguyên sơ thuần nhất không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ một bình diện vật chất khác.

2) Bất biến - mọi sự biến đổi (cấu trúc hoá hay phân rã) đều diễn ra bên ngoài giới hạn của bình diện tâm thức.

3) Vĩnh hằng - sự tồn tại của bình diện tâm thức không có điểm đầu và điểm cuối.

4) Phân bố khắp vũ trụ - bình diện tâm thức đóng vai trò “nền” đối với tất cả các bình diện vật chất khác.

5) Hoàn toàn trong suốt và trống rỗng - con người và mọi thiết bị tuyệt đối không thể nhìn thấy bình diện tâm thức một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. 

6) Tĩnh lặng tuyệt đối - vắng mặt mọi sự nhiễu loạn.

7) Phi thời gian - không có dòng chảy thời gian vì vắng mặt mọi quá trình vật chất (thời gian là thuộc tính của các quá trình vật chất diễn ra theo một trật tự nhất định).

8) Phi không gian - không có quảng tính như dài ngắn, rộng hẹp, cao thấp vì vắng mặt mọi cấu trúc vật chất.

9) Nguồn gốc vạn vật-  phát sinh tất cả sự vật của vũ trụ.

10) Sinh ra “hiệu ứng tâm thức” -tác động lên mọi cấu trúc vật chất, được thể hiện qua các hình thái “nhận biết” từ dạng đơn giản nhất như phản ứng, cảm ứng... cho đến dạng tinh tế như ý thức, tình yêu, sáng tạo...

Các cấu trúc vật chất càng bé càng dễ tương tác với “sóng tâm thức”. Bình diện tâm thức như thể một đại dương vật chất - sóng, tồn tại vĩnh hằng và có vai trò đặc biệt đối với mọi quá trình hình thành và tiến hoá của vũ trụ nói chung, cũng như tạo ra sự sống từ các dạng thô sơ nhất cho đến các dạng phức tạp nhất, trong số đó có con người.

Việc chỉ ra sự tồn tại của bình diện tâm thức là một kết luận có ý nghĩa thiết thực đối với cả tôn giáo và khoa học. Bằng những thể nghiệm tâm linh và suy ngẫm kiên trì, một số đại sư từ lâu đã nhận thức được sự hiện hữu “cái đó” trong mối quan hệ vô cùng xa lạ và gần gũi, vô cùng bí ẩn và hiển nhiên, dường như rất cao xa nhưng lại gắn bó mật thiết, mọi cá nhân đều có khả năng tiềm tàng tiếp cận “nó” tại bất kỳ thời điểm nào của cuộc sống.

Dựa trên khái niệm về bình diện tâm thức, khoa học có thể mở rộng tầm nhìn đối với nhiều lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt là tìm hiểu về nguồn gốc, động lực và quá trình tiến hoá của vũ trụ nói chung cũng như quá trình phát sinh sự sống trên Trái Đất của chúng ta và tại các hành tinh khác ngoài hệ mặt trời.

Chính ý tưởng về bình diện tâm thức được lấy ra từ các ghi chép tâm linh liên quan đến những người đã chứng ngộ thành Phật. Nội dung cốt lõi của các giáo lý như vậy hướng tới một đối tượng siêu việt nhất định mà các đại sư hết sức tôn kính và bền bỉ tu luyện để hoà nhập vào đó. Rõ ràng, bức tranh đầy đủ mô tả vũ trụ chỉ có thể thu được từ việc kết hợp các ý tưởng về vũ trụ đa chiều thực tại cũng như sự hiện diện một lớp vật chất vĩnh cửu đóng vai trò nguồn chất liệu nguyên thuỷ và động lực sinh thành vạn vật.

Chúng ta sẽ vô cùng kinh ngạc nếu biết rằng, trước đây gần 25 thế kỷ, nhà triết học Socrates đã có ý nghĩ về “tự tính” tựa như bình diện tâm thức. Phép tư duy của ông là đi tìm tự tính của mọi sự vật thông qua các hiện tượng đơn lẻ. “Hiện tượng” là cái có sinh - thành - hoại - diệt, còn “tự tính” là cái vĩnh hằng, đích thực, độc lập và đứng sau mọi hiện tượng. Socrates là người đầu tiên nêu rõ mối quan hệ giữa tự tính và hiện tượng. Ông cũng cho rằng, sự hiểu biết về hiện tượng chưa phải là tri thức đúng đắn, còn tự tính thì khó nắm bắt, nên ông coi mình “không biết gì cả”.  

Một số nhà khoa học khác cũng đã có những tư tưởng đáng chú ý. Leibniz, người theo chủ nghĩa duy linh khách quan, cũng đã đi đến cách tiếp cận gần với khái niệm về bình diện tâm thức. Ông đã nêu lên định đề về sự hiện hữu một cơ sở tâm linh “khách quan” khác với ý thức con người và độc lập với ý thức con người. Cơ sở tâm linh khách quan đó cũng giống như Ý niệm tuyệt đối của Hegel hay Thượng Đế của Platon. Trong trường hợp này, Thượng Đế là siêu việt đối với vũ trụ và không đồng nhất với vũ trụ. Theo Leibniz, tồn tại các “đơn tử” là những chất không thể phân chia được, thuộc về tinh thần, tạo nên toàn bộ vũ trụ.

Những người theo quan điểm của cơ học lượng tử cũng đã tiếp cận rất gần với khái niệm về bình diện tâm thức. Họ nói đến một ngân hàng năng lượng tự nhiên vô hạn mà từ đó xuất hiện các “hạt ma” (chúng tồn tại với thời gian cực ngắn, thực tế không thể phát hiện ra).

Hệ quả 3Tồn tại một lớp vật chất trung gian giữa hai bình diện vật chất liền kề.

Cần nhắc lại rằng, khái niệm “lớp vật chất” ở đây có nghĩa giống như “lớp sóng” - mọi sóng cùng tồn tại trong một không gian nhưng mỗi lớp sóng được xác định bởi dải tần số của nó; tương tự, toàn bộ vật chất cùng tồn tại trong một không gian nhưng chúng được nhận biết theo mức mật độ. Sự tồn tại lớp vật chất trung gian được suy diễn như sau. Vì hai bình diện liền kề có vật chất khác biệt nhau về mức mật độ, nên giữa chúng phải tồn tại một lớp trung gian đóng vai trò phân cách. Có thể dự đoán rằng, tại lớp vật chất trung gian diễn ra những quá trình biến đổi nhất định (cấu trúc hoá hay phân rã các phần tử cơ sở) có quan hệ đến hai bình diện liền kề tương ứng.

Một số cá nhân có kinh nghiệm xuất thần đã quan sát được lớp trung gian giữa bình diện vật lý (NF0) và bình diện kề cận (NF1).

Hệ quả 4Các bình diện vật chất đã được tạo thành theo trật tự mức mật độ tăng dần.

Hệ quả này được suy diễn như sau. Vì bình diện tâm thức là phi cấu trúc và tồn tại vĩnh hằng nên nó là bình diện vật chất duy nhất tồn tại đầu tiên. Lớp vật chất trung gian kề cận bình diện tâm thức đã được tạo thành từ nguồn năng lượng nguyên thuỷ đó. Tiếp đến, mỗi bình diện vật chất nhất định đều được sinh ra từ lớp trung gian kề trước, bởi vì các cấu trúc cơ sở tương ứng (tựa “nguyên tử”) phải được hình thành từ “chất liệu” phù hợp và có sẵn. Quá trình đó diễn ra cho đến bình diện vật lý.

Trên đây là các khía cạnh chủ yếu của thuyết vũ trụ đa chiều thực tại. Nói một cách ngắn gọn, thuyết này gồm 3 điểm chính sau đây:

- Toàn bộ vật chất được thể hiện theo vô số lớp, mỗi lớp được đặc trưng bởi mức mật độ hay dải tần số rung động của các “nguyên tử” tương ứng và đóng vai trò một chiều thực tại của vũ trụ;

- Bình diện tâm thức là nguồn năng lượng nguyên thuỷ, nó là lớp vật chất phi cấu trúc chứa các hạt nguyên sơ với nhiều tính chất siêu việt;

- Bình diện vật lý là vỏ cứng của vũ trụ, nó là lớp vật chất có mức mật độ các nguyên tử dày đặc nhất.

Rõ ràng, thuyết vũ trụ đa chiều nêu trên không chứa đựng bất kỳ yếu tố nào có liên quan đến một thực thể siêu phàm với nhân tính, năng lực và trí tuệ tuyệt đối. Điều này có ý nghĩa khách quan trong việc xem xét các hiện tượng xảy ra xung quanh chúng ta.  

Các ý tưởng về vũ trụ đa chiều

Đối với các nhà khoa học thế giới, ý tưởng về vũ trụ đa chiều hay vũ trụ song song đã xuất hiện cách đây 7 thập niên. Vào năm 1935, tác giả thuyết tương đối là Einstein và trợ lý của ông là Nathan Rosen đã công bố một bài báo liên quan đến “lỗ đen”. Họ đề xuất rằng, thay vì đó là kẽ hở của không - thời gian đơn giản như ban đầu người ta tưởng thì “lỗ đen” chính là “cầu nối” một vũ trụ con này với một vũ trụ con có thể khác. Trong vật lý học hiện đại, khái niệm này được coi là “Cầu Einstein - Rosen”.

Ý tưởng trên đây có ảnh hưởng nhất định đến các nhà khoa học khác theo hướng tìm kiếm vũ trụ con song song. Vào năm 1951, nhà vật lý Hugh Everett cho rằng nhiều thế giới hay vũ trụ con cùng tồn tại với chúng ta nhưng không thể đồng thời thâm nhập được. Theo Everett, mỗi thế giới hay mỗi chiều thực tại đều có chứa một bản khác nhau của cùng một người đang sống và thực hiện nhiều hành động khác nhau trong cùng một thời điểm. Lý thuyết này gây ra bàn cãi rất nhiều, nhưng nó đưa đến một cách giải thích thực tại lượng tử.

Một công trình khác về “lỗ đen” đã được công bố vào năm 1961 bởi Kruscal. Người này đã trình bày bản đồ về “lỗ đen”, chỉ ra mối nối lẫn nhau giữa vũ trụ con vật lý và các vũ trụ con vô hình.

Năm 1963, nhà vật lý và toán học Roy P. Kerr đã xây dựng các phương trình chính xác liên quan đến sự quay của “lỗ đen”. Từ đó suy ra sự tồn tại của vô số vũ trụ con song song mà tất cả chúng đều nối trực tiếp với “lỗ đen”. Kerr giả định là tồn tại một chuỗi vô hạn mảnh chắp của vũ trụ trải rộng đồng thời về quá khứ và tương lai.

William Buhlman, một người thực hành khả năng xuất thần của con người, vào năm 1996 đã viết trong cuốn Adventures beyond the body (Phiêu lưu ngoài cơ thể) rằng, vũ trụ là một sự thâm nhập đa chiều của năng lượng liên nối lẫn nhau, có thể được phân tách như không gian sóng. Ông tin rằng, mỗi đối tượng ở bình diện phi vật lý (vô hình) bao gồm một ma trận năng lượng ánh sáng thay vì năng lượng phân tử. Buhlman đã nói đến bình diện phi vật lý NF1 (kề cận bình diện vật lý) trên cơ sở kết quả quan sát của ông trong khi xuất thần. Đây là thế giới năng lượng song song có hình thái gần như đồng nhất với bình diện vật lý. Nó không thể bị phân tách theo không gian và thời gian, nhưng có thể phân biệt được bằng tần số rung động hay mật độ năng lượng. Tại bình diện này hiện hữu các khuôn hay bản sao năng lượng của các đối tượng vật lý. Tuy nhiên, cùng các cấu trúc phi vật lý đó tồn tại hầu như độc lập với bình diện vật lý. Ví dụ, một ngọn nến đang cháy có thể bị thổi tắt ở bình diện NF1, nhưng vẫn sáng ở thế giới vật lý.

Còn có nhiều ý tưởng khác nói về tính đa chiều của vũ trụ hay đề cập đến những thế giới vô hình tồn tại song song với bình diện vật lý. Tuy vậy, chưa thấy tài liệu nào xem xét bình diện tâm thức với vai trò là nguồn chất liệu nguyên thuỷ của vũ trụ hiện nay và là động lực sinh thành các cấu trúc vật chất muôn hình muôn vẻ, trong đó có các cơ thể sống nói chung và con người nói riêng.

Khái niệm về khoa học tâm linh

Thuật ngữ “khoa học tâm linh” cần được sử dụng để chỉ lĩnh vực nghiên cứu về lý thuyết và thực nghiệm có quan hệ đến nền tảng của sự tồn tại nói chung, kể cả các bình diện vật chất phi vật lý (không nhìn thấy). Thành phần quan trọng nhất của khoa học tâm linh có lẽ là thuyết vũ trụ đa chiều thực tại mà cốt lõi của nó là kết luận về sự hiện hữu bình diện tâm thức - lớp vật chất phi cấu trúc đóng vai trò chất liệu nguyên thuỷ và động lực toàn năng tạo nên mọi sự vật của vũ trụ.

Các cách tiếp cận và quá trình nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học tâm linh sẽ có những đặc thù hoàn toàn mới so với khoa học thực nghiệm trong bình diện vật lý. Điểm nổi bật của khoa học tâm linh hiện nay là khi tiến hành khảo sát và thực nghiệm ở những chiều thực tại năng lượng khác nhau đòi hỏi phải có sự tham gia trực tiếp của con người như một cỗ máy đa chiều tinh tế và đồng thời có thể làm nhiệm vụ của người nghiên cứu. Không thể tìm hiểu được các chiều thực tại năng lượng nếu không có những thiết bị đa chiều phù hợp. Hy vọng là các phương tiện kỹ thuật như vậy có thể sẽ được sáng chế ra trong một tương lai không xa.

Nhiều tư liệu khoa học và tôn giáo đã được tích luỹ từ xa xưa đến nay cho thấy rằng, việc tiếp cận và nhận diện các thế giới vô hình không đến nỗi quá khó khăn. Rõ ràng, các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học tâm linh sẽ có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với đời sống tinh thần và vật chất của mỗi cá nhân nói riêng và cả xã hội nói chung.

 

VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần thứ hai

Một trong những điều bí ẩn có liên quan đến sự hình thành và quá trình tiến hóa của vũ trụ là bản chất của nguồn vật chất nguyên thủy và động lực toàn năng kết nối các phần tử vật chất với nhau. Từ thuyết vũ trụ đa chiều thực tại cho thấy rằng, nguồn vật chất nguyên thủy chính là bình diện tâm thức, còn động lực toàn năng kết nối các phần tử vật chất với nhau - tính "nhận biết" phát sinh từ sự tương tác của bình diện tâm thức với bất kỳ cấu trúc vật chất nào.

 

- Phần thứ hai -

SỰ HÌNH THÀNH

BÌNH DIỆN VẬT LÝ

    Các quan niệm về vũ trụ

       Chúng ta đang sống trong bình diện vật lý. Đây là chiều thực tại “thô” nhất của vũ trụ. Quá trình phát triển nền văn minh nhân loại đã sản sinh ra nhiều quan niệm về vũ trụ mang tính thần thánh và tính khoa học với nội dung từ giản đơn cho đến phức tạp. Dưới đây chúng tôi điểm qua một số quan niệm phổ biến hơn cả.

       Vũ trụ sơ khai: Có lẽ vài trăm ngàn năm trước, sau khi hình thành ngôn ngữ giao tiếp thì con người đã có các ý tưởng đầu tiên về những gì bao quanh họ. Vũ trụ dưới con mắt của những người như vậy chỉ bao gồm mọi sự vật xảy ra mà họ có thể trực tiếp chứng kiến và một khoảng không bao la chứa đựng những hiện tượng thiên nhiên bí ẩn như mưa, nắng, gió, bão, sấm sét... Vũ trụ của những người cổ xưa cũng đơn sơ như đời sống và hiểu biết của họ.

       Vũ trụ trừu tượng: Cuộc sống của loài người càng phát triển thì sự hiểu biết của họ về vũ trụ càng được mở rộng và phức tạp hơn. Đến một lúc nào đó, con người đã nhận biết được rằng Trái Đất là một vật thể cực lớn. Khoảng gần ba ngàn năm trước, các nhà thông thái coi Trái Đất là phẳng - một lục địa khổng lồ trôi nổi trên đại dương đầy nước.

       Lúc đó nước được nhìn nhận như là yếu tố khởi thuỷ chi phối toàn bộ thế giới. Dần dần, tính phẳng của Trái Đất và tính khởi thuỷ của nước đã được đánh giá lại. Trái Đất có dạng một khối dẹt hay khối cầu, còn nước chỉ là một trong nhiều yếu tố khác đã tạo nên vũ trụ.

       Vào khoảng thế kỷ 6 trước Công nguyên, nhà toán học Pythagore đã định hình cho một vũ trụ trừu tượng. Thời bấy giờ ngoài Trái Đất, Mặt Trăng và Mặt Trời, người ta đã biết 5 hành tinh là các sao Thuỷ, Kim, Hoả, Mộc và Thổ. Theo Pythagore, trung tâm của vũ trụ là một ngọn lửa lớn không nhìn thấy và xung quanh nó là các đối tượng quay theo những quỹ đạo tròn. Chúng theo thứ tự xa dần là Đối Trái Đất, Trái Đất, Mặt Trăng, Mặt Trời, sao Thuỷ, sao Kim, sao Hoả, sao Mộc và sao Thổ. Đối Trái Đất được tưởng tượng ra là một thiên thể luôn che chắn cho Trái Đất khỏi hơi nóng dữ dội của ngọn lửa trung tâm.    

       Pythagore còn cho rằng, vũ trụ phải phù hợp với các con số và có thể được suy diễn từ lý thuyết thuần tuý.

       Vũ trụ địa tâm: Vào thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, Platon đã đề xuất mô hình về vũ trụ địa tâm có giữ lại một số ý tưởng của Pythagore. Theo đó, Trái Đất có dạng cầu hoàn hảo và là trung tâm của những thiên thể khác. Chúng chuyển động xung quanh Trái Đất theo quỹ đạo tròn với vận tốc không thay đổi. Có lẽ mô hình địa tâm của vũ trụ đã phát sinh từ sự quan sát các thiên thể trên bầu trời chuyển động tương đối với Trái Đất từ đông sang tây ngày này qua ngày khác. Chính mô hình về vũ trụ địa tâm đã tồn tại một thời gian khá dài, gần hai ngàn năm.   

       Vũ trụ nhật tâm: Vào năm 1543, một linh mục người Ba Lan tên là Nicolas Copecnic đã cho công bố cuốn sách Về sự quay của các thiên cầu, trong đó đã đưa ra mô hình mới về vũ trụ - vũ trụ nhật tâm. Quan niệm này cho rằng, Mặt Trời là trung tâm của các thiên thể khác, còn Trái Đất cũng chỉ có vai trò như những hành tinh đã được biết lúc bấy giờ (trừ Mặt Trăng). Chúng đều quay xung quanh Mặt Trời theo những quỹ đạo nhất định và được phân bố theo khoảng cách tăng dần từ tâm, lần lượt là sao Thuỷ, sao Kim, Trái Đất, sao Hoả, sao Thổ. Riêng Mặt Trăng vẫn giữ Trái Đất là tâm của nó và cùng quay xung quanh Mặt Trời.

       Vũ trụ theo Copecnic vẫn là hữu hạn vì nó bị giới hạn bởi một mặt cầu cứng, không quay và chứa các sao.  

       Vũ trụ vô hạn: Có hai nhân vật đã mở rộng giới hạn của vũ trụ thành vô cùng. Vào năm 1576, nhà thiên văn người Anh tên là Thomas Digges đã đưa ra ý kiến loại bỏ mặt cầu ngoài cùng chứa các sao. Như vậy, các sao được phân bố trong một không gian vô hạn, chứ không phải trên một mặt cầu hạn hẹp. Một người khác, tu sĩ dòng Đa minh, tên là Jordano Bruno đã đề xuất giả thuyết về sự tồn tại vô số dạng sống khác nhau trong vũ trụ vô hạn. Đây là ý tưởng phản bác lại những giáo lý đương thời. Bởi vậy, Jordano Bruno đã bị kết tội dị giáo và bị Nhà thờ kết án hoả thiêu vào năm 1600.

       Vũ trụ tĩnh: Trước thế kỷ 20, hầu như mọi nhà vật lý thiên văn đều thừa nhận rằng vũ trụ tồn tại vĩnh cửu trong trạng thái không thay đổi, hoặc nó được tạo ra ở một thời điểm nhất định trong quá khứ và ít thay đổi theo thời gian. Đó là quan niệm về vũ trụ tĩnh. Điều này phù hợp với thiên hướng của con người mong muốn tin vào tính ổn định của các sự vật nói riêng và vũ trụ nói chung.   

       Vũ trụ giãn nở: Một trong những người đầu tiên phản bác mô hình về vũ trụ tĩnh là Heinrich Olbers (người Đức), ông đã cho công bố bài báo của mình vào năm 1823. Từ suy luận thấy rằng, trong một vũ trụ tĩnh vô hạn thì hầu như mỗi dường ngắm đều kết thúc trên bề mặt của một ngôi sao. Do đó toàn bộ bầu trời sẽ sáng chói, kể cả ban đêm. Nhưng thực tế không phải vậy. Có nghĩa là các ngôi sao không chiếu sáng vĩnh cửu, chúng được sinh ra và chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian hữu hạn.

       Cột mốc về sự thay đổi quan niệm từ vũ trụ tĩnh sang vũ trụ giãn nở đã được chính thức ấn định vào năm 1929, sau khi Edwin Hubble quan sát thấy các thiên hà đang chuyển động rất nhanh rời xa chúng ta. Đó chính là hiện tượng giãn nở của vũ trụ. Điều này nói lên rằng, tại những thời điểm xa xưa các thiên thể ở gần nhau hơn. Phát hiện của Edwin Hubble đã dẫn đến một trong những ý tưởng căn bản của thiên văn học hiện đại: tồn tại một thời điểm, được gọi là Vụ nổ lớn, khi đó vũ trụ vô cùng nhỏ và vô cùng đậm đặc (mật độ vật chất là vô hạn). Với những điều kiện như vậy, tất cả các định luật vật lý đều mất tác dụng.

       Sự phát hiện về vũ trụ đang giãn nở là một thành tựu vĩ đại của vật lý thiên văn trong thế kỷ 20.

     Kịch bản Vụ nổ lớn

       Như hệ quả 4 ở phần 1 chỉ ra, các bình diện vật chất của vũ trụ đã được hình thành theo trật tự mức mật độ tăng dần. Nói cách khác, bình diện vật lý đã được sinh ra sau cùng.

       Cho đến nay, giới khoa học chính thống vẫn coi vũ trụ chỉ có chiều thực tại vật lý. Do đó, người ta chỉ xét quá trình hình thành bình diện vật lý, bao gồm toàn bộ những gì mà con người với công cụ hiện đại có thể nhận biết được.

       Đa số các nhà nghiên cứu vũ trụ ngày nay đều nghiêng về giả thuyết cho rằng, bình diện vật lý với hàng trăm ngàn tỷ thiên hà chính là kết quả của một Vụ nổ lớn, đã diễn ra cách thời đại chúng ta khoảng 13,7 tỷ năm. Các nhà vật lý thiên văn đã đề xuất một lịch trình lạ thường dưới đây hình thành bình diện vật lý (BDVL) kể từ thời điểm t* = 10-43 giây sau Vụ nổ lớn:

       - Tại thời điểm t*, kích thước của BDVL bằng khoảng 10-28 cm (bé hơn một triệu tỷ lần kích thước của hạt nhân nguyên tử), nhiệt độ lên tới 1032 độ K, vật chất vô cùng đậm đặc. Khi đó có sự thống nhất cả 4 loại lực tương tác của vũ trụ hữu hình - lực mạnh liên kết hạt nhân, lực yếu phân rã hạt nhân, lực điện từ và lực hấp dẫn.  

       - Đến thời điểm 10-35 giây, lực hấp dẫn đã được tách khỏi ba lực kia. Trong khoảng thời gian 10-35 - 10-32 giây, BDVL phình lên đến kích thước quả cam (đường kính cỡ 10 centimét), trong nó chứa một hỗn hợp các hạt electron, photon, nơtrino, quark và nhiều hạt khác; mật độ vật chất tại thời điểm này hoàn toàn không đồng đều và đó là nguyên nhân để tạo ra những thiên hà khổng lồ sau này.

       - Sau thời điểm 10-32 giây, BDVL có đường kính cỡ 100 mét, bên trong nó ngự trị bóng tối tuyệt đối, nhiệt độ cực kỳ cao. Lực bảo đảm sự gắn kết hạt nhân của nguyên tử (lực mạnh) đã được tách khỏi lực điện từ và lực yếu.  

       - Đến thời điểm 10-11 giây, lực điện từ và lực yếu (lực phân rã phóng xạ) đã được tách riêng. Từ 10-11 - 10-5 giây, sự phân hoá vẫn tiếp tục mà kết quả là các quark liên kết thành proton và nơtron là những thành phần cơ bản của hạt nhân nguyên tử, phần lớn các phản hạt biến mất để nhường chỗ cho các hạt khác.

       Sự giãn nở của BDVL đã kéo theo nhiệt độ giảm xuống. Vào khoảng 10-2 giây sau Vụ nổ lớn, nhiệt độ có thể là 100 tỷ độ và BDVL chứa nhiều photon, electron, nơtrino cũng như các phản hạt của chúng, một ít proton và nơtron.     

       Sau đó, BDVL tiếp tục nở rộng và nguội dần. Tại thời điểm 3 phút đầu tiên khi nhiệt độ hạ xuống còn khoảng một tỷ độ, proton và nơtron đã kết hợp với nhau để thành hạt nhân của hydro, heli và những nguyên tố khác. Hàng trăm ngàn năm sau, nhiệt độ đã hạ xuống ở mức vài ngàn độ, các electron chuyển động khá chậm nên có nhiều hạt nhân nhẹ có thể bắt giữ chúng để tạo thành những nguyên tử.  

       Thời gian tiếp theo mọi việc đã diễn ra chậm hơn rất nhiều. Trong hàng chục triệu năm toàn bộ BDVL chìm ngập trong các loại bức xạ. Vào khoảng 100 triệu năm sau, các ngôi sao đầu tiên đã được tạo ra trong những cơn lốc bụi vô tận, chủ yếu gồm các loại khí hydro và heli. Các nguyên tố nặng hơn như oxy và cacbon chỉ bắt đầu được tạo thành sau khoảng một tỷ năm do kết quả đốt cháy heli ở trong lòng các ngôi sao. Chính oxy và hydro là hai loại khí làm nguồn nhiên liệu khổng lồ tạo nên các phản ứng nhiệt hạch kéo dài hàng chục tỷ năm trong lòng những ngôi sao. Dần dần BDVL đã được hình thành với hàng tỷ tỷ ngôi sao tụ họp theo vô số thiên hà.

       Nhà vật lý Mỹ John Wheeler còn cho rằng, vũ trụ đã đi qua một dãy vô hạn các chu trình co - giãn; sau mỗi lần vũ trụ bị nén tới một mật độ và nhiệt độ cực lớn thì nó được tái sinh để bắt đầu một thời kỳ giãn nở tiếp theo. Nhưng ở mỗi chu trình mới thì vũ trụ nhìn thấy lại xuất hiện với những hằng số vật lý, những điều kiện ban đầu và cả những định luật vật lý khác trước. Thật may mắn là chu trình ứng với bình diện vật lý của chúng ta hiện nay rất phù hợp với quá trình phát sinh sự sống!

     Vũ trụ trước thời điểm 10-43 giây

       Xung quanh kịch bản Vụ nổ lớn về sự hình thành bình diện vật lý có một số câu hỏi đáng chú ý mà khoa học ngày nay vẫn chưa thể giải đáp thoả đáng. Vũ trụ ra sao trước thời điểm t* = 10-43 giây? Vật chất từ đâu đã tạo nên Vụ nổ lớn? Động lực nguyên thuỷ là gì? Có hay không một thực thể siêu phàm tạo nên BDVL?

       Tất cả những câu hỏi trên đây và một số vấn đề phức tạp khác có thể được giải đáp xuất phát từ định đề về vũ trụ đa chiều trong phần 1 cùng với các hệ quả của nó. Một số luận điểm lý thuyết có thể được kiểm nghiệm khá dễ dàng nếu có sự phối hợp khách quan giữa các nhà nghiên cứu khoa học và các nhà thực hành tâm linh.

       Hầu hết các nhà vật lý không biết phải dựa vào đâu để lý giải sự xuất hiện của BDVL. Họ có thể đi ngược thời gian cho đến 10-43 giây, nhưng qua điểm đó thì bế tắc.

       Những người theo thuyết trường lượng tử thì cho rằng, BDVL chỉ là sản phẩm của sự biến động trên một đại dương năng lượng vô tận. Đó là nguồn gốc của tất cả các hạt cơ bản nói riêng và vũ trụ nói chung. Một trong những khái niệm cơ sở được sử dụng ở đây là chân không lượng tử. Các nhà vật lý coi đó là môi trường năng lượng tinh tế tạo nên những quá trình biến đổi không ngừng các “hạt ma”; chúng hiện ra và mất đi trong một thời gian cực ngắn. 

       Nhà vật lý David Bohm coi vật chất và ý thức, thời gian, không gian và vũ trụ chỉ là “tiếng vỗ” hết sức nhỏ bé so với sự hoạt động vô giới hạn của khối nằm bên dưới chúng và đến lượt, khối đó cũng đã phát sinh từ một nguồn sáng tạo vĩnh cửu ở bên kia không gian và thời gian. Đáng chú ý là chính nhà vật lý nổi tiếng Hawking cũng đã nêu ý kiến cho rằng, vũ trụ lượng tử nguyên thuỷ có cấu trúc phi thời gian, còn BDVL hiện nay có lẽ đã sinh ra từ một bộ phận hữu hạn của vũ trụ lượng tử. 

       Rõ ràng, những người theo thuyết trường lượng tử đã có các ý tưởng ít nhiều phù hợp với thuyết vũ trụ đa chiều nêu trên. Thật vậy, theo thuyết này thì trước thời điểm 10-43 giây sau Vụ nổ lớn, vũ trụ đã có bình diện NF1 cùng với lớp vật chất trung gian kề cận bình diện vật lý tương lai. Bình diện NF1 có lẽ đã tồn tại rất lâu theo một thang độ thời gian riêng. Lớp trung gian kề cận bình diện vật lý đóng vai trò chân không lượng tử, vật chất ở dạng các hạt hay năng lượng của lớp này đã được sinh ra từ bình diện NF1.

       Thuyết vũ trụ đa chiều mang lại cho chúng ta một cách nhìn logic về quá trình hình thành các bình diện vật chất nói chung và bình diện vật lý nói riêng. Rõ ràng, không thể biết hết được mọi bí ẩn của vũ trụ. Nhưng trong thuyết vũ trụ đa chiều, tiền đề nguyên thuỷ đã được đẩy tới giới hạn tột cùng là sự tồn tại bình diện tâm thức - hệ quả từ định đề về vũ trụ đa chiều - với các thuộc tính đặc biệt như bất biến, phi thời gian, phi không gian, vĩnh hằng... Sự hiện hữu bình diện tâm thức là bí ẩn tối thượng không thể nhận thức được.

     Động lực toàn năng của vũ trụ

       Như trên đã nói tới, “chất liệu” để tạo nên bình diện vật lý có nguồn gốc sơ khai từ bình diện tâm thức. Vậy thì cái gì là động lực vạn năng tạo nên vũ trụ như ngày nay? Đây là một vấn đề có vẻ bề ngoài vô cùng bí ẩn.

       Chúng ta sẽ đưa ra câu trả lời khá đơn giản và logic. Theo thuyết vũ trụ đa chiều ở trên, một trong những thuộc tính của bình diện tâm thức là “sóng tâm thức” tác động lên mọi cấu trúc vật chất, tạo nên “hiệu ứng tâm thức” được biểu hiện qua “nhận biết” từ dạng đơn giản nhất như phản ứng, cảm ứng... cho đến dạng tinh tế như ý thức, tình yêu, sáng tạo... Mọi cấu trúc vật chất thường xuyên tương tác với “sóng tâm thức”. Và tất cả chúng đã và đang tham gia vào những quá trình tiến hoá vô cùng đa dạng với các mức nhận biết nhất định, kể cả ý thức. Rõ ràng, các cấu trúc vật chất càng tinh tế càng dễ tương tác với “sóng tâm thức” mà kết quả là chúng thể hiện như những vi thực thể có lý trí. Như vậy, “hiệu ứng tâm thức” chính là động lực vạn năng tạo nên tất cả các quá trình biến đổi trong vũ trụ. Nói một cách hình tượng, bình diện tâm thức đóng vai trò Đấng sáng tạo của vũ trụ, trong đó quyền năng vô biên của Ngài được thể hiện qua “hiệu ứng tâm thức”. Cần nhắc lại rằng, Đấng sáng tạo được nói tới ở đây nằm ngoài không gian và thời gian, tiềm ẩn một lượng vật chất vô hạn, có tác động đến mọi cấu trúc vật chất một cách thụ động, ít nhiều giống như chất xúc tác trong các phản ứng hoá học. Bởi vậy, có thể gọi bình diện tâm thức là “bình diện xúc tác toàn năng” của vũ trụ. 

       Tồn tại một số ý tưởng của các nhà nghiên cứu vũ trụ theo hướng tiếp cận này. Jean Guitton, một trong những nhà triết học Cơ đốc giáo xuất sắc nhất hiện nay, trong cuốn sách Thượng Đế và khoa học cũng đã coi “toàn thể vũ trụ hướng tới ý thức”. Ông có đồng quan điểm với một số nhà nghiên cứu khác cho rằng: “Mọi cái trong vũ trụ, cho đến tận những hạt nhỏ bé nhất, đều là cái mang ý thức ở một mức độ nào đó”.

       Trong bối cảnh hiện nay, đa số các nhà khoa học không tán thành ý kiến như vậy. Tuy nhiên, một số nhà khoa học đã vượt qua chính mình, đi tới chỗ hình dung các hạt cơ bản có mang một thuộc tính ít nhiều tựa như ý chí tự do. Vào năm 1970, nhà vật lý Hoa Kỳ là Evan Walker đã trình bày một luận điểm đáng kinh ngạc như sau: “Ý thức có thể liên kết với tất cả các hiện tượng lượng tử... vì mọi sự kiện xét đến cùng đều là sản phẩm của một hay nhiều sự kiện lượng tử, vũ trụ được cư trú bởi vô số thực thể có ý thức bí ẩn...”.   

       Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng, sự tồn tại những cấu trúc vật chất có trật tự ở cấp độ vi mô và vĩ mô vẫn còn là một bí ẩn lớn. Có vô số hiện tượng tự nhiên với các thành phần tham gia như thể có “ý thức”. Tất cả những điều như vậy có thể được làm sáng tỏ nếu xuất phát từ “hiệu ứng tâm thức” là kết quả tương tác giữa bình diện tâm thức và các cấu trúc vật chất. Chúng ta sẽ bàn luận vấn đề này tỷ mỷ hơn khi đề cập đến sự sống trong các bình diện vật chất.

     Các quá trình co - giãn cục bộ?

       Kịch bản Vụ nổ lớn nêu trên đã được xem xét cho cả bình diện vật lý. Nhưng tính vô hạn của vũ trụ hoàn toàn cho phép diễn ra không phải một, mà là vô số “vụ nổ lớn” không đồng thời. Không loại trừ trường hợp là những gì mà con người quan sát được từ trước đến nay chỉ nằm trong phạm vi của một “vụ nổ lớn” cá biệt.

       Ngay trong phạm vi của một “vụ nổ lớn” cũng có khả năng hình thành những tâm điểm co nén rải rác. Và từ đó vẫn có thể sẽ xảy ra các “vụ nổ lớn” cục bộ. Sự phân bố các tâm điểm như vậy có lẽ là ngẫu nhiên. Cũng có thể hình dung rằng, các quá trình co - giãn trong vũ trụ diễn ra một cách hỗn loạn về thời gian và không gian. Có nhiều thách đố khi xem xét những hiện tượng biến động vật chất trong phạm vi của một vũ trụ vô hạn và đa chiều thực tại.

 

VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần thứ ba
Từ thời cổ xưa con người đã ý thức được rằng, sự sống là một bí ẩn vĩ đại. Các nhà thông thái trong mọi thời đại đều rất đau đầu về câu hỏi "sự sống là gì?". Và đặc biệt hiện nay chúng ta lại biết thêm là tồn tại sự sống ở thế giới vô hình. Tác giả cuốn sách đưa ra một cách nhìn hoàn toàn mới về sự sống nói chung, kể cả đối với thế giới không nhìn thấy (sẽ xem xét sau).


- Phần thứ ba -

NGUỒN GỐC

SỰ SỐNG

 

        Sự sống là một bí ẩn vĩ đại

       Con người đang chứng kiến một hiện tượng vô cùng bí ẩn của vũ trụ, đó là sự sống. Chúng ta là một phần của sự sống và rất quen thuộc nó, nhưng không thể định nghĩa một cách chặt chẽ “sự sống là gì”. Khoa học đương đại đang bó tay trước hàng loạt câu hỏi: Sự sống từ đâu tới? Bản chất của nó là gì?Nguồn lực nào thúc đẩy giới sinh vật tiến hoá? Ý nghĩa của cuộc sống con người?    

       Theo các số liệu nghiên cứu, lịch sử loài người quá ngắn ngủi so với lịch sử Trái Đất. Hành tinh của chúng ta đã được hình thành khoảng 4,7 tỷ năm trước đây và sau đó hơn 2 tỷ năm thì mầm mống sự sống đầu tiên có mặt; còn tổ tiên con người chỉ mới xuất hiện khoảng vài ba triệu năm trước.

       Chúng ta biết sự khác nhau của một sinh vật và một vật không sống. Đặc tính cơ bản của sinh vật là khả năng trao đổi chất, sinh trưởng, phát triển, sinh sản và cảm ứng. Tế bào là cấu trúc cơ sở của mọi sinh vật, ngoại trừ virus sống ký sinh trong tế bào của một sinh vật khác. Các loài sinh vật có thể được cấu tạo từ một tế bào (đơn bào) hoặc nhiều tế bào (đa bào). Ví dụ, vi sinh vật chỉ có một tế bào, trong khi đó cơ thể người chứa khoảng 60 nghìn tỷ tế bào. Các sinh vật có thể cực bé như virus (nhìn vào kính hiển vi thông thường không thể thấy được chúng) hoặc rất lớn như khủng long hay cá voi (có thể nặng hàng chục tấn). Khác với thực vật thường cố định và thu nạp chất dinh dưỡng một cách thụ động, động vật có khả năng tự do di chuyển và kiếm ăn một cách linh hoạt. Từ hàng triệu năm nay, thế giới sinh vật tồn tại và phát triển một cách mạnh mẽ, đa dạng và không ngừng biến đổi để thích nghi với điều kiện tự nhiên. Con người tự hào là đại diện siêu đẳng của các loài sinh vật bằng xương bằng thịt trên hành tinh chúng ta.   

       Nguồn năng lượng để duy trì sự sống của mỗi sinh vật được lấy từ các quá trình trao đổi chất với môi trường xung quanh. Về mặt này, cơ thể sống phức tạp thể hiện mình như một nhà máy chế biến theo công nghệ phân tử, đa năng và chuyên biệt hoá cao, trong đó có nhiều khâu hoạt động một cách tự động tuyệt hảo. Điều đặc biệt là các tế bào đóng vai trò “lao động” với kỷ cương chặt chẽ và tinh thần làm việc cần mẫn. Cộng đồng khổng lồ các tế bào của một cá thể sinh vật trong phạm vi chức năng của chúng dường như có cùng “ý thức phục vụ” đối tượng chung. Thậm chí, hàng triệu phân tử cấu tạo nên một vi sinh vật (đơn bào) cũng làm việc với nhau theo các hiệu lệnh nhất quán và nhanh gọn. Dường như chúng được phân công lao động rõ ràng và được huấn luyện nghiệp vụ kỹ càng ngay từ lúc đầu. Do đâu mà hàng ngàn tỷ tế bào tạo nên một cá thể động vật phức tạp có thể phối hợp hoạt động với nhau một cách nhịp nhàng?          

       Sự hoạt động sống của một cơ thể đa bào thực chất là kết quả tổng hợp các hoạt động của từng tế bào riêng lẻ. Các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực sinh học phân tử đã cho thấy rằng, các tế bào vi sinh vật, thực vật và động vật không chỉ giống nhau về cấu tạo tổng thể mà cả về cấu tạo vi thể của các thành phần tế bào, đó chính là sự khẳng định về nguồn gốc chung của mọi loài sinh vật.

       Thành phần cốt lõi của tế bào là nhân, nó chính là trung tâm điều khiển mọi hoạt động của tế bào và giữ vai trò quan trọng về di truyền. Một trong những điều kỳ lạ liên quan đến nhân tế bào là sự hiện diện loại phân tử ADN do J. Watson và F. Crick phát hiện ra năm 1953. Phân tử này giống như một dải ru băng kép cuộn lại theo hình xoắn ốc. ADN đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xác định chức năng của tế bào. Nó được coi là một máy siêu vi tính vô cùng tinh vi, chính xác và nhạy bén. Nó giữ vai trò bảo quản và truyền đạt thông tin về cấu trúc toàn bộ các loại chất đạm (protein) của một cơ thể sinh vật, tức là quy định tình trạng và đặc tính của mỗi cơ thể.  

        Sự sống phát sinh từ đâu?

       Các nhà thông thái trên thế giới từ lâu đã đưa ra nhiều giả thuyết về nguồn gốc sự sống. Các luận điểm của họ có thể được thần thánh hoá hoặc mang tính khách quan. Xét một số quan niệm đáng chú ý.

Người xưa tin rằng, chính Đức Chúa Trời đã tạo ra mọi loài sinh vật trên Trái Đất. Một số người khẳng định, sinh vật “từ trên trời rơi xuống” qua con đường thiên thạch hoặc sao chổi. Số khác lại ủng hộ thuyết “tự nhiên sinh ra”, tựa như trong câu chuyện vui nói về cái áo bẩn và lúa mì để lẫn nhau lâu ngày sinh ra chuột... Đến thế kỷ 19, Louis Pasteur (người Pháp) đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng, thuyết “tự nhiên sinh ra” không có cơ sở đứng vững và tất cả các sinh vật đều được sinh ra từ “bố mẹ” của chúng.

       Năm 1920, Alexandre Oparine (người Nga) cố tìm cách lý giải sự sống nguyên sơ đã được sinh thành từ vật chất vô tri vô giác và quá trình đó kéo dài nhiều triệu năm. Một phần ý tưởng của ông đã được kiểm nghiệm vào năm 1950 bởi Stanley Miller, một người Mỹ lúc đó mới 20 tuổi. Miller đã thu được những giọt nước có chứa các axit amin - những viên gạch đầu tiên để xây dựng vật chất sống. Một người Mỹ khác là Fox cũng đã thực nghiệm để khẳng định ý tưởng của mình:  sự sống được phôi thai từ miệng núi lửa. Ông đã thu được cái gọi là “vi cầu” với khả năng lớn lên và tự nhân bản, mặc dù chúng chưa phải là cơ thể sống.

       Một số nhà nghiên cứu khác cũng đã tạo ra trong phòng thí nghiệm các chất quan trọng làm nền tảng cho sự sống. Tuy vậy, tất cả những thứ kể trên có phải đã tạo nên các cơ thể sống đầu tiên hay không thì chưa ai thực sự tin. Chưa có một cách lý giải khả dĩ nào về nguồn gốc sự sống.          

       Dựa theo thuyết vũ trụ đa chiều thực tại có thể nói rằng:  mọi sinh vật hữu hình trên hành tinh chúng ta đã bắt nguồn từ các nguyên tử vật lý của Trái Đất, quá trình tạo nên chúng đã kéo dài hàng tỷ năm, động lực duy nhất sinh thành và thúc đẩy sự sống tiến hoá chính là “hiệu ứng tâm thức” được biểu hiện qua sự liên kết, phản ứng, cảm ứng, ý thức...   

       Thực vậy, chúng ta sẽ xem xét tỷ mỷ hơn kết luận này. Trước hết như sau này sẽ thấy, ngoài các sinh vật hữu hình còn tồn tại những sinh thể vô hình trong các bình diện vật chất không nhìn thấy (trừ bình diện tâm thức). Rõ ràng, kết luận trên đây phù hợp với các khía cạnh thực tế sau:

       - Tất cả các cơ thể sinh vật đều gồm những nguyên tử vật lý vốn hiện hữu trên Trái Đất từ hàng tỷ năm nay;

       -  Đời sống của mọi sinh vật đều dựa trên các nguyên tố hoá học có mặt trên hành tinh chúng ta;

       - Mọi sinh vật đều có khả năng “nhận biết” nhất định;

       - Sự sống được thể hiện vô cùng phong phú với quá trình tiến hoá ở quy mô toàn cầu từ sinh vật nguyên sơ (đơn bào) cho đến sinh vật phức tạp nhất (con người);

       - Mỗi cơ thể sống như một cộng đồng khổng lồ các tế bào hoặc phân tử mà đến lượt chúng, mỗi tế bào hoặc phân tử lại thể hiện như một đơn vị sống riêng lẻ có “nhận biết”;

       - Nguồn lực tạo nên sự sống và thúc đẩy mọi sinh vật phát triển được vận hành một cách thụ động, hiệu quả và đã được duy trì nhiều tỷ năm nay;

       - Cơ chế phát sinh sự sống và thúc đẩy nó phát triển có tính phổ biến, sâu rộng, liên tục và đa dạng. 

       Nếu trên Trái Đất không đủ điều kiện để phát sinh mầm sống muôn hình muôn vẻ như vậy thì không thể có giới sinh vật vô cùng phong phú như hiện nay. Không thể hình dung ra một thực thể siêu phàm hữu hạn nào đó lại có đủ khả năng, sức mạnh và thời gian để sáng tạo nên hàng tỷ tỷ sinh vật từ xa xưa đến nay. Có nhiều cơ sở để tin rằng, quá trình sinh thành tổ tiên của sinh vật nói chung đã kéo dài hàng tỷ năm và đã diễn ra trong những điều kiện đột biến mạnh mẽ của môi trường Trái Đất. Vì vậy, việc nghiên cứu thực nghiệm điều đó hoặc tìm kiếm vết tích còn để lại trong lòng đất đá là cực kỳ khó khăn. Cần nhắc lại rằng, động lực sinh thành và thúc đẩy sự sống tiến hoá bắt nguồn từ bình diện tâm thức, cho nên nó có tác động tuyệt đối giống nhau trên Trái Đất hay tại bất kỳ một hành tinh nào khác với điều kiện tương tự. Chính bình diện tâm thức đóng vai trò nguồn lực vô tận đã tạo nên một cách gián tiếp và thụ động muôn loài sinh vật như ngày nay.

        Bản chất của sự sống

       Vấn đề cần được quan tâm trước tiên là những khía cạnh nào đóng vai trò cốt lõi trong việc hình thành một sinh vật nguyên thuỷ? Điều này có quan hệ chặt chẽ với cả quá trình tiến hoá của sự sống.

       Chúng ta biết rằng, sinh vật đơn sơ nhất chỉ gồm một tế bào từ hàng triệu nguyên tử. Đó là một cấu trúc “sống”. Như trong phần 1 đã đề cập đến, mọi cấu trúc vật chất vô sinh và hữu sinh đều tương tác với “sóng tâm thức” mà kết quả là tạo ra “hiệu ứng tâm thức”, tức là chúng có khả năng “nhận biết” ở những mức độ khác nhau. Bởi vậy, sự phân biệt căn bản giữa một cấu trúc sống và một cấu trúc không sống chỉ là ở mức độ thể hiện “nhận biết” của chúng. Khía cạnh này có ý nghĩa cầu nối tiến hoá của vật chất.

       Khía cạnh thứ hai có liên quan đến nguồn gốc “nhận biết” của một cơ thể sống. Cần phải luôn luôn ghi nhớ rằng, mức độ “nhận biết” của mọi sinh vật không phải do tự thân chúng sinh ra, mà chỉ là kết quả tương tác giữa chúng với sóng tâm thức (“hiệu ứng tâm thức”). Nói cách khác, nếu không tồn tại sóng tâm thức thì không thể có sự sống trong vũ trụ. Mọi vị Phật đều biết rõ điều này.

       Chúng ta có thể hình dung sự kiện trên đây qua mô hình giản đơn về các máy thu hình. Rõ ràng, nếu không có sóng truyền hình từ đài phát thì mọi máy thu hình đều trở nên vô dụng. Mặc dù sóng truyền hình nào đó được phát đi từ một đài, nhưng các máy thu hình khác nhau lại thu được hình ảnh và âm thanh với chất lượng và kích cỡ không đồng đều. Tương tự, các cơ thể sống từ đơn giản đến phức tạp có một khả năng vượt trội so với những cấu trúc vật chất không sống trong việc tương tác với “sóng tâm thức” mà kết quả là thể hiện sự “nhận biết” ở các mức cao thấp khác nhau. Tại bất kỳ thời điểm nào và ở bất kỳ vị trí nào, mỗi cơ thể sống luôn luôn tương tác với một ít “sóng tâm thức”, tương tự như mỗi máy thu hình ở chế độ làm việc luôn luôn tương tác với một ít sóng truyền hình.     

Một cấu trúc sống ít nhiều giống với máy thu sóng. Dù ở dạng đơn giản hay phức tạp, mỗi sinh vật hoạt động như một cỗ máy liên hợp với nhiều chức năng tinh vi và đồng bộ với nhau. Nói ngắn gọn, mỗi cơ thể sống tồn tại trên cơ sở tự thân phối hợp sự hoạt động của ba dạng chức năng cơ bản sau đây phân bố và liên hệ đan xen lẫn nhau:

Trao đổi thông tin- thu thập, lưu trữ, nhận dạng, biến đổi thông tin trong phạm vi môi trường và cơ thể;

Đảm bảo nhu cầu sống- chế biến các chất liệu và năng lượng cần thiết cho quá trình sống và sinh sản;

       Điều khiển hoạt động- điều khiển mọi hoạt động của cơ thể một cách nhịp nhàng.

Một cấu trúc vật chất như vậy sẽ được gọi là cấu trúc thông tin hoá hoạt động tự thân (THT). Đây là khía cạnh thứ ba của một sinh vật tại bình diện vật lý.

       Như vậy, “cơ thể sống” là một cấu trúc THT trong mối tương tác với “sóng tâm thức”. Nói cụ thể hơn: bản chất của sự sống là sự thể hiện “nhận biết” ở một mức độ nhất định của các cấu trúc vật chất phức tạp, tất cả chúng đều có nguồn gốc sâu xa từ bình diện tâm thức. Các đại sư từ hàng ngàn năm qua đã thấu hiểu chân lý này.

        Quá trình hình thành sự sống

       Quá trình hình thành sự sống có lẽ không diễn ra như nhiều người đã suy nghĩ và tìm kiếm. Các nhà triết học xưa nay vẫn không ngừng tranh luận gay gắt xung quanh những câu hỏi như:  Vật chất có trước hay ý thức có trước? Nếu vật chất có trước và sinh ra ý thức thì quá trình đó như thế nào? Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức ra sao?

      Có thể nhận được các câu trả lời cho những câu hỏi  trên đây nếu xuất phát từ thuyết vũ trụ đa chiều thực tại đã được xem xét. Trước hết, thuật ngữ “vật chất” mà người ta thường dùng ngụ ý chỉ dạng vật chất có cấu trúc, tức là không tính đến bình diện tâm thức bao gồm dạng vật chất phi cấu trúc. Tiếp đến cũng cần lưu ý rằng, ý thức là một hình thái “nhận biết” - đó là một biểu hiện của “hiệu ứng tâm thức” phát sinh từ sự tương tác giữa một cấu trúc vật chất phức tạp và sóng tâm thức. Như vậy, ý thức mang tính tương đối, tức là không thể nói ý thức hay vật chất có trước vì ý thức hoàn toàn biến mất nếu thiếu một trong hai thành phần là bình diện tâm thức hoặc dạng vật chất có cấu trúc. Ở đây cần luôn ghi nhớ rằng, sự tồn tại của bình diện tâm thức cùng với những tính chất đặc biệt của nó, kể cả sóng tâm thức, là bất biến và vĩnh hằng.    

       Quá trình hình thành sự sống được quy về quá trình tạo ra các cấu trúc THT. Rõ ràng, mỗi cấu trúc THT bao gồm hàng chục triệu hay hàng tỷ tế bào hoặc nguyên tử, được kết hợp với nhau theo một trình tự nhất định. Các nguyên tử của cấu trúc THT đã được kết nối với nhau như thế nào?

       Các bước hình thành sự sống không đến nỗi quá bí ẩn nếu xuất phát từ những hệ quả đơn giản sau đây rút ra từ thuyết vũ trụ đa chiều thực tại: 

       - Mọi cấu trúc vật chất đều tương tác với sóng tâm thức, tạo ra “hiệu ứng tâm thức” thể hiện bởi “nhận biết”;

       - Các cấu trúc vật chất càng tinh tế, ví dụ như các vi hạt, càng nhạy cảm trong việc tương tác với sóng tâm thức;

       - Bất kỳ một cấu trúc các nguyên tử nào cũng có biểu hiện “nhận biết” ở mức độ nhất định; 

       - Một cấu trúc phức tạp bao gồm những cấu trúc đơn giản hơn với sự tổ hợp “nhận biết” của chúng.

       Một điểm nữa cần được chú ý khi nói về quá trình hình thành sự sống, đó là các vi hạt và các cấu trúc vật chất với mức độ “nhận biết” cao trong điều kiện môi trường “hỗn độn” sẽ rất dễ dàng gặp được những vi hạt và những cấu trúc vật chất phù hợp để liên kết với nhau. Ở đây, điều kiện “hỗn độn” đã trở nên một yếu tố thuận lợi để hình thành sự sống. Đúng như thuyết âm dương đã chỉ rõ, nếu coi “hỗn độn” là một cực đang hiện hữu thì cực đối lập với nó là “trật tự” sẽ được thiết lập. Yếu tố “nhận biết” của các cấu trúc vật chất có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành những mầm sống đầu tiên. Như vậy, quá trình hình thành sự sống dựa trên khả năng “nhận biết” của các nguyên tử, các phân tử và các mối tương tác có thể giữa chúng.

       Trong số hơn một trăm nguyên tố hoá học đã biết có mặt trên Trái Đất thì các cơ thể sống chứa hơn 60 nguyên tố và tất cả các nguyên tố đó đều hiện diện trong giới vô cơ. Các hợp chất hữu cơ là chất có chứa cacbon. Sự hình thành các phân tử nói chung và các phân tử hữu cơ làm nền tảng cho sự sống nói riêng được quyết định bởi sự “nhận biết” vượt trội của một số dạng các nguyên tử và phân tử. Ngày nay đã xác định được rằng, cơ sở vật chất chủ yếu của sự sống gồm 2 loại hợp chất hữu cơ là protein và axit nucleic (ADN và ARN). Trong tế bào, protein đóng vai trò xúc tác và điều hoà, còn axit nucleic - di truyền và sinh sản.

      Protein và axit nucleic thuộc loại đại phân tử (chứa tới hàng vạn nguyên tử), chúng có kích thước và khối lượng rất lớn. Hai chất này có cấu trúc đa phân tử. Mỗi phân tử protein gồm trung bình 100 - 30000 phân tử axit amin. Từ 20 loại axit amin, thiên nhiên đã tạo ra vô số loại protein khác nhau ở số lượng, thành phần và trật tự sắp xếp các axit amin. Mỗi phân tử ADN gồm trung bình 10000 - 25000 phân tử nucleotic. Từ 4 loại nucleotic, đã tạo nên vô số loại ADN khác nhau ở số lượng, thành phần và trật tự sắp xếp các nucleotic. Cấu trúc đa phân tử làm cho protein và axit nucleic tuy rất đa dạng, nhưng vẫn mang tính đặc thù. Vậy là, các phân tử của protein và axit nucleic (các đại phân tử sống) với cấu trúc rất phức tạp đã thể hiện “hiệu ứng tâm thức” ở một mức độ “nhận biết” khác biệt về chất.  

Sự “nhận biết” lẫn nhau như vậy giữa các đại phân tử sống khiến cho chúng có khả năng tự tổ chức và thực hiện được những chức năng nhất định. Trên cơ sở đó, các đại phân tử sống kết hợp với nhau thành các bào quan và thành các tế bào hoàn chỉnh. Chúng có mức độ “nhận biết” cao hơn do sự phức tạp hoá mang lại. Tiếp theo, các tế bào tập hợp lại thành các mô, các cơ quan... rồi thành cơ thể. Đến đây, từ “hiệu ứng tâm thức” đơn lẻ của các đại phân tử sống, các tế bào, các mô, các cơ quan... đã hình thành nên “hiệu ứng tâm thức” của cơ thể hay cấu trúc THT. Chính điều đó đã giúp cho chúng có khả năng “nhận biết” lẫn nhau và phối hợp hoạt động nhịp nhàng với nhau từ phạm vi vĩ mô cho đến vi mô và ngược lại. 

       Như vậy, bản chất của sự sống nói chung và giới sinh vật hữu hình nói riêng là biểu hiện vượt trội thuộc tính “nhận biết” của các sản phẩm vật chất có cấu trúc trong mối quan hệ tương tác với bình diện tâm thức.

 

 

VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần thứ tư
Bản thể con người là gì? Suy rộng ra, bản thể của mọi sự sống (cả vô hình và hữu hình) là gì? Vũ trụ tổng thể có phải là một thực thể sống hay không? v.v... Tất cả những thứ này ít nhiều đều được bàn luận trong Phần thứ tư của cuốn sách. Những ý tưởng được đưa ra có vẻ rất độc đáo và logic.


 

- Phần thứ tư -

BẢN THỂ

CON NGƯỜI

 

       Nhận xét chung

Hàng chục ngàn năm trước đây có lẽ con người đã biết suy ngẫm về nhiều khía cạnh đời sống của chính mình. Đó là một trong những đặc điểm căn bản về trí tuệ để phân biệt con người với động vật. Dĩ nhiên, nếu xét về môi trường hoạt động sống thì khác với động vật, con người biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động theo những mục đích nhất định. Vượn người là loài động vật thông minh cũng chỉ biết sử dụng các công cụ sẵn có trong thiên nhiên như hòn đá, cành cây... và đôi khi biết chút ít biến đổi vật dụng thô sơ cho phù hợp với hoàn cảnh kiếm ăn. Bằng các công cụ phức tạp và có hiệu quả, con người đã và đang tác động mạnh mẽ vào thiên nhiên, làm thay đổi môi trường sống và tạo dựng cuộc sống của mình theo nhiều hình mẫu vô cùng phong phú. Quá trình hoạt động trí óc và lao động chân tay đã làm cho con người vượt xa mức sống của động vật.

       Mặc dù hiện nay nền văn minh nhân loại đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn trong hàng loạt lĩnh vực khoa học - kỹ thuật, nhưng vẫn bó tay trước những câu hỏi đã từng làm đau đầu bao thế hệ các nhà thông thái. Bản thể con người là gì? Vị trí tiến hoá tự nhiên của con người? Ý nghĩa đời sống của con người? Tồn tại cuộc sống sau cái chết? Thực chất của các hiện tượng tâm linh? v.v...

       Chúng ta hy vọng rằng, xuất phát từ thuyết vũ trụ đa chiều thực tại ở trên sẽ có thể giải đáp được hầu hết các vấn đề như vậy. Một trong những khía cạnh nền tảng của vũ trụ cần được luôn ghi nhớ là sự tồn tại vĩnh hằng của bình diện tâm thức cùng với các thuộc tính đặc biệt của nó. 

    Cấu trúc năng lượng của con người

       Những người có khả năng đặc biệt về thị giác(1) từ lâu đã nhận biết được rằng, sinh vật nói chung và con người nói riêng là những cấu trúc đa chiều. Nói cách khác, ngoài thân vật lý (thể xác) mà chúng ta nhìn thấy còn có các cơ thể không nhìn thấy ở dạng năng lượng phối hợp hoạt động với nhau thành một hệ thống hoàn chỉnh. Nếu không tính đến điều đó thì không thể có cách tiếp cận đúng đắn và tìm được những kết luận phù hợp về bản thể con người.

       Như chúng ta đã biết, vật lý học hiện đại đã xác nhận sự tương đương giữa vật chất và năng lượng - trong các điều kiện nhất định thì cái này có thể được biến đổi thành cái kia và ngược lại. Về mặt định lượng, sự tương đương đó được biểu thị bởi công thức nổi tiếng của Einstein E = mc2, ở đây E là năng lượng, m là khối lượng, còn c = 300.000 km/s - vận tốc ánh sáng trong chân không. Do đó, có thể coi mọi sinh vật đều được cấu tạo từ các thành phần năng lượng.

       Thời gian gần đây người ta đã đưa ra nhiều hệ thống để mô tả các cơ thể năng lượng của con người. Ở đây chúng ta sẽ sử dụng cách mô tả của bà Barbara Ann Brennan(2) kèm theo một số tư liệu từ thuyết tâm linh.

       Theo bà Brennan, ngoài thân vật lý con người còn có ít nhất 7 cơ thể năng lượng không nhìn thấy bởi mắt thường và tất cả chúng thâm nhập lẫn nhau trong một khoảng không gian vào cùng một thời điểm. Các cơ thể năng lượng được đánh số thứ tự theo mật độ vật chất giảm dần, trong đó cơ thể liền kề thân vật lý được đánh số 1.

       Việc quan sát bằng thị giác đặc biệt cho biết rằng, các cơ thể có số thứ tự lẻ (1, 3, 5, 7) đều có cấu trúc rõ ràng, trong khi các cơ thể có số thứ tự chẵn (2, 4, 6) lại gồm những chất tựa lỏng không có cấu trúc đặc thù. Mỗi cơ thể kế tiếp ít đậm đặc hơn và thâm nhập hoàn toàn vào tất cả các cơ thể trước nó, kể cả thân vật lý.

       Các cơ thể có số thứ tự lẻ chứa mọi hình thái mà thân vật lý có, kể cả nội tạng, mạch máu... và các hình thái bổ sung mà thân vật lý không có. Mỗi cơ thể hiện ra khác nhau và có chức năng đặc trưng. Mỗi cơ thể được kết hợp với một luân xa chính và một số luân xa khác. Từ “luân xa” có nghĩa là bánh xe. Trừ luân xa 1 và luân xa 7, mỗi luân xa chính còn lại là cặp cuộn xoáy năng lượng hình nón quay tròn với chóp đối diện nhau và hướng vào dòng năng lượng chủ yếu từ đỉnh đầu tới xương cụt, còn hai đáy nằm ở phía trước và phía sau, tiếp giáp với rìa của cơ thể tương ứng.

       Số thứ tự của mỗi luân xa chính được gán trùng với số thứ tự của cơ thể tương ứng. Như vậy, luân xa 1 ứng với cơ thể năng lượng thứ nhất, luân xa 2 ứng với cơ thể năng lượng thứ hai..., luân xa 7 ứng với cơ thể năng lượng thứ bảy. 

       Luân xa chính của các cơ thể có ba chức năng chủ yếu sau đây:  tiếp sinh khí cho từng cơ thể, kể cả thân vật lý; tạo ra sự phát triển các diện mạo khác nhau của ý thức về bản thân; trao đổi năng lượng giữa các cơ thể. Năng lượng được truyền từ cơ thể này sang cơ thể khác liền kề qua những khe hành lang ở đỉnh luân xa. Các hành lang này ở số đông người bị đóng, chúng thường được khai mở do bẩm sinh hoặc kết quả của việc thanh khiết hoá tâm linh.

       Tiếp theo sẽ mô tả vắn tắt cấu trúc năng lượng và chức năng của các cơ thể không nhìn thấy.

        Cơ thể ête (cơ thể năng lượng thứ nhất): Từ “ête” được dùng để chỉ dạng năng lượng kề cận vật chất hữu hình. Cơ thể này gồm các vạch năng lượng rất bé, giống như một mạng các tia sáng lấp lánh. Nó có cùng cấu trúc với thân vật lý, chứa tất cả các bộ phận giải phẫu học và toàn bộ các cơ quan. Cảm giác của người quan sát là cơ thể ête đóng vai trò cái khuôn năng lượng mà trên đó thể chất các mô của thân vật lý được hình thành và bám vào. Thực nghiệm đã chứng tỏ rằng, cơ thể ête được sinh ra trước thân vật lý.

       Qua cơ thể ête, người ta có thể thấy được tất cả các bộ phận của thân vật lý, nhưng chúng được tạo nên bằng ánh sáng xanh nhạt lấp lánh. Nếu chỉ tập trung nhìn vào cơ thể này thì có thể nhận ra nó tựa như một người nam hay nữ bằng những vạch ánh sáng xanh nhạt liên tục nhấp nháy.

       Các phần tử của cơ thể ête chuyển động không ngừng. Những tia sáng xanh nhạt chuyển dịch dọc theo các vạch năng lượng khắp thân vật lý. Cơ thể ête có màu sắc thay đổi từ xanh nhạt sang xám, nó vượt ra khỏi mặt da khoảng 0,64-5,08 cm và rung động 15-20 chu kỳ/phút.

      Trong thuyết tâm linh, cơ thể ête được gọi là thể phách. Nó có hai nhiệm vụ chủ yếu là thường xuyên phân phát sinh lực (prana) khắp thân vật lý và làm cầu nối giữa thân vật lý với cơ thể năng lượng thứ hai. Thể phách sẽ bị phân huỷ sau cái chết của thân vật lý.

       Cơ thể cảm xúc (cơ thể năng lượng thứ hai): Đây là cơ thể có quan hệ chặt chẽ với cảm xúc tự nhiên của con người. Cơ thể này bám sát đường nét của thân vật lý, nhưng không sao chép rõ ràng như với cơ thể ête. Nó hiện ra như một đám mây ở trạng thái lỏng liên tục chuyển động. Cơ thể này có màu thay đổi từ sáng chói đến xám xịt tuỳ theo trạng thái cảm xúc. Nó vượt ra quá mặt da 2,54-7,62 cm.

       Trong thuyết tâm linh, cơ thể cảm xúc được gọi là thể vía. Người ta gán cho nó 3 chức năng chủ yếu: nơi sinh ra cảm xúc, cầu nối giữa thể chất và tinh thần, công cụ độc lập về tư duy và hành động. Các cảm xúc phát sinh từ thể vía ở dạng năng lượng, chúng có thể là sợ hãi, căm ghét, giận dữ và bạo hành. Nếu một người bị đình trệ tại cơ thể cảm xúc thì ít có điều kiện để biến đổi năng lượng tiêu cực thành dạng tích cực tương ứng.

Một phần thể vía và các cơ thể năng lượng sẽ được mô tả tiếp theo vẫn tiếp tục tồn tại sau cái chết của thân vật lý.

       Cơ thể tâm thần (cơ thể năng lượng thứ ba): Cơ thể này có quan hệ với các quá trình trí tuệ. Nó thường hiện ra như một khối sáng màu vàng chói lọi, bức xạ quanh đầu, vai và bao bọc toàn bộ thân vật lý. Nó lan rộng và rực rỡ hơn khi ai đó tập trung vào các quá trình tâm thần.      

       Như trên đã nói, cơ thể tâm thần là một cơ thể năng lượng có cấu trúc. Nó chứa đựng cấu trúc các ý niệm của con người. Bằng thị giác đặc biệt có thể nhìn thấy các hình thái tư tưởng trong cơ thể này ở dạng những đốm sáng với hình thù thay đổi. Cơ thể tâm thần vượt qua cơ thể cảm xúc và ra quá mặt da khoảng 7,62 - 20,32 cm.

       Trong thuyết tâm linh, cơ thể tâm thần được gọi là thể trí. Mối quan hệ giữa thể trí và bộ não con người được trung chuyển qua thể vía. Về cơ bản, những gì liên quan đến suy nghĩ và hoài nghi đều diễn ra ở thể này. Nếu được biến đổi thì suy nghĩ sẽ trở thành sáng tỏ trực tiếp (thấu suốt), còn hoài nghi sẽ trở thành tin cậy.

       Cơ thể tinh tú (cơ thể năng lượng thứ tư): Cơ thể tinh tú không có hình dạng nhất định, gồm các đám mây màu sặc sỡ hơn so với cơ thể cảm xúc. Đây là cơ thể có vai trò trung gian giữa ba cơ thể năng lượng đầu (liên quan đến thế giới thể chất) và ba cơ thể năng lượng sau nó (liên quan đến thế giới tâm linh). Cơ thể tinh tú kết hợp với luân xa 4 (luân xa tim) là nơi cải biến năng lượng từ thể chất qua tâm linh và ngược lại. Nó vượt ra quá mặt da 15,24 - 30,48 cm.

       Trong thuyết tâm linh, cơ thể tinh tú được gọi là thể tâm lý. Đây là thể có tiềm năng lớn và chứa nhiều bí ẩn về tâm lý. Các chất có chứa cồn như rượu và bia rất dễ tác động tiêu cực lên thể này. Phẩm chất tự nhiên của thể tâm lý là mơ mộng và tưởng tượng. Thể tâm lý ở động vật ít phát triển nên chúng hầu như không có ý niệm về quá khứ và tương lai. Nếu thể này được phát triển một cách phù hợp thì sẽ làm cho mơ mộng trở thành linh ảnh (thấy sự vật của thế giới năng lượng), còn tưởng tượng - trực cảm.

       Cơ thể ête mẫu (cơ thể năng lượng thứ năm):  Cơ thể này là hình thái mẫu âm bản cho cơ thể ête vốn là khuôn dạng của thân vật lý. Nói cách khác, cơ thể ête có nguồn gốc cấu trúc từ cơ thể ête mẫu. Bằng thị giác đặc biệt có thể nhìn thấy cơ thể này gồm những hình thái trên nền xanh thẫm như một sơ đồ kiến trúc âm bản. Cơ thể ête mẫu vượt ra quá mặt da khoảng 15,24 - 60,96 cm, trông giống như hình trái xoan hơi thuôn.

       Trong thuyết tâm linh, cơ thể ête mẫu được gọi là thể tâm linh. Từ thể này có thể thu được câu trả lời cho câu hỏi “tôi là ai?” và chấm dứt mọi vấn đề xung khắc nội tâm thường hiện hữu ở một cá nhân. Nó là thể đầu tiên mà tại đó con người cảm thấy niềm vui vô song. Một người khi làm chủ thể tâm linh sẽ loại bỏ được hoàn toàn vô thức, tức là sự nhận biết của cá nhân không bị đình trệ ngay cả trong giấc ngủ. Người đó chính là vị Phật, người tỉnh thức trong mọi thời khắc của đời sống.   

       Cơ thể thượng giới (cơ thể năng lượng thứ sáu): Mọi cảm xúc tâm linh diễn ra tại cơ thể thượng giới. Nếu ai đó có luân xa 6 (luân xa thượng giới) và luân xa 5 (luân xa tim) được khai mở và liên kết với nhau thì tình yêu thương vô điều kiện sẽ tuôn chảy, sẽ cảm thấy bản thân và vũ trụ hoà nhập làm một.

       Dưới thị giác đặc biệt, cơ thể thượng giới hiện ra trong ánh sáng lung linh rất đẹp, có các tia màu vàng bạc và trắng sữa như mặt xà cừ. Hình thái của nó ít xác định hơn so với cơ thể ête mẫu, dường như nó là ánh sáng được bức xạ từ thân vật lý. Cơ thể thượng giới vượt ra quá mặt da khoảng 60,96 - 81,28 cm.

       Trong thuyết tâm linh, cơ thể thượng giới được gọi là thể vũ trụ. Qua thể này con người có thể cảm nhận chân lý vũ trụ - tính toàn bộ của sự tồn tại.      

       Cơ thể nhân quả (cơ thể năng lượng thứ bảy): Khi quan sát cơ thể này bằng thị giác đặc biệt sẽ thấy ánh sáng óng vàng lung linh rung động rất nhanh, giống như vô số sợi tơ. Nó có hình dạng quả trứng với một lớp “vỏ” dày khoảng 6,4 - 12,7 mm. Tất cả các luân xa và các dạng thể chất đều hiện ra ở đây như được làm bằng ánh sáng óng vàng. Cơ thể này vượt ra quá mặt da khoảng 91,44 - 106,68 cm tuỳ thuộc vào từng người.

       Cơ thể nhân quả cũng chứa dòng năng lượng chủ yếu lên xuống dọc theo cột sống, đó là nguồn dinh dưỡng chủ yếu cho tất cả các cơ thể năng lượng. 

Các biểu hiện tâm thần thuộc thế giới tâm linh diễn ra ở cơ thể này. Sau khi làm chủ được thể tâm linh và thể vũ trụ, một vị Phật có thể đưa ý thức tiếp xúc với cơ thể này. Lý do để gán tên “nhân quả” cho nó là ở chỗ, phía trong lớp vỏ có tồn tại các dải năng lượng tiền kiếp đã được ghi nhận phù hợp với luật nhân quả.

       Trong thuyết tâm linh, cơ thể nhân quả được gọi là thể niết bàn. Người ta cho rằng, không thể dùng lời để mô tả trực tiếp được thể này. Từ “niết bàn” ở đây gần với các nghĩa trống rỗng, chân không, phi tồn tại. Nếu con người đưa ý thức vào thể này thì sẽ chuyển từ sự cảm nhận tồn tại sang trạng thái hầu như phi tồn tại, rỗng không.    

       Ngoài 7 cơ thể năng lượng kể trên, bà Brennan còn nhìn thấy các cơ thể năng lượng thứ tám và thứ chín. Mỗi cơ thể đó kết hợp tương ứng với luân xa 8 và luân xa 9 ở phía trên đầu. Chúng hiện ra trong suốt như pha lê và gồm những thành phần rung động rất tinh tế. Hai cơ thể đó có vẻ như theo khuôn mẫu chung và xen nhau giữa chất liệu (cơ thể thứ tám) hoặc hình thái (cơ thể thứ chín). Cơ thể thứ tám hiện ra ở dạng tựa chất lỏng, còn cơ thể thứ chín trông như một hình mẫu pha lê của mọi cái chứa trong những cơ thể năng lượng dưới nó.

       Theo quan sát của những người có thị giác đặc biệt thì ngoại trừ cơ thể ête, một phần của các cơ thể năng lượng khác vẫn tiếp tục tồn tại và liên kết với nhau thành sinh thể năng lượng sau cái chết của thân vật lý. Điều này cho đến nay vẫn chưa được giới khoa học xác nhận. Đáng chú ý là tất cả các cơ thể của con người đều liên thông với một chiều thực tại nhất định.

       Mặc dù các nhà huyền môn không nói đến hệ thống các cơ thể năng lượng của con người, nhưng truyền thống của họ trên khắp thế giới qua 5000 năm vẫn phù hợp với những quan sát mà các nhà khoa học bắt đầu tiến hành gần đây.

       Một trong những thách thức đặt ra khi mong muốn khảo sát hệ thống các cơ thể năng lượng của sinh vật nói chung và của con người nói riêng là các thiết bị kỹ thuật hiện đại chưa thể phát huy tác dụng. Xét đến cùng, hệ thống các cơ thể con người là một cỗ máy đa chiều thực tại với những giác quan có thể được khai mở để hoạt động tại bất kỳ bình diện vật chất nào. Điều này đã được nhiều người chứng nghiệm. Rõ ràng, tất cả các thiết bị kỹ thuật mà chúng ta hiện nay sáng chế ra hầu như chỉ thích hợp cho chiều thực tại vật lý. Có lẽ đó là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự bế tắc trong việc nghiên cứu thực nghiệm về thế giới tâm linh.        

       Mô hình tâm linh về con người

       Tiếp theo chúng ta sẽ xét một mô hình tâm linh về con người phù hợp với thuyết vũ trụ đa chiều. Nghịch lý gần gũi và bí ẩn nhất hiện nay là chúng ta vẫn còn rất mơ hồ về bản thể đích thực của chính mình. Đó là vấn đề có ý nghĩa triết học và có vai trò rất thiết thực đối với xã hội nói chung cũng như mỗi cá nhân nói riêng. Ở đây sẽ đề cập đến một cách tiếp cận có nguồn gốc sâu xa từ thời cổ xưa để tìm hiểu cấu trúc tâm linh của con người. Chúng ta có thể dễ dàng hiểu được mô hình này nếu xuất phát từ các khía cạnh cấu trúc năng lượng của con người.     

       Mô hình tâm linh về con người bao gồm 3 yếu tố cấu thành là thân vật lý, tâm trí và tâm thức.

Thân vật lý: Mỗi cá nhân đều dễ dàng nhận biết được thân vật lý của mình. Đó là phần hữu hình của con người. Nó được hình thành và phát triển chủ yếu dựa trên các điều kiện sinh học của bình diện vật lý. Thân vật lý đảm nhận vai trò cơ học đối với mọi hoạt động sinh tồn của mỗi người từ lúc phôi thai cho đến khi kết thúc cuộc đời. Thân vật lý con người là hoàn toàn mới cho mỗi lần sinh thành và nó được tạo theo một khuôn dạng nhất định nhờ cơ chế di truyền từ bố mẹ. Tuổi thọ của thân vật lý phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện sống và cách thức hoạt động của mỗi người, nó có thể kéo dài hơn 100 năm.

Nếu con người tự đồng nhất mình với thân vật lý thì nó sẽ trở thành “chủ” và thường xuyên đòi hỏi được thoả mãn hàng loạt nhu cầu có hại hoặc không cần thiết. Điều này là nguyên nhân đầu tiên làm cho cuộc sống con người dễ rơi vào “bể khổ” triền miên.

Tâm trí: Yếu tố này bao gồm các tiến trình nhận biết như tư duy, lưu thông các ý nghĩ, cảm xúc, tưởng tượng, mơ mộng... Tâm trí dựa trên một cơ chế đặc biệt hiện hữu trong con người với các khả năng thu nhận, lưu trữ, biến đổi, tìm kiếm và xử lý thông tin mà kết quả dễ biến thành hành động. Mỗi cá nhân có thể nhận biết tâm trí mình qua bộ não. Biểu hiện rõ rệt và nổi bật nhất của tâm trí con người là sự phát sinh liên tục luồng ý nghĩ hỗn tạp. Điều đặc biệt đáng chú ý là phần lớn thời gian tâm trí tồn tại trong vô ý thức và nắm giữ vai trò quyết định đối với nhiều hành vi và hoạt động của mỗi người. Khi ai đó trở nên có ý thức đối với luồng ý nghĩ của mình thì sẽ hết sức kinh ngạc và bàng hoàng về những gì mà tâm trí tạo ra đang không ngừng xuất hiện bên trong.

       Cần lưu ý rằng, tâm trí của mỗi người không phải do thân vật lý tạo ra. Nó phát sinh từ các cơ thể năng lượng và thường xuyên gây tác động điều khiển sự hoạt động của thân vật lý. Theo các đại sư thì tâm trí là cũ, nó tiếp nối từ những lần sinh thành quá khứ của các thân vật lý khác. Điều này là một trong những luận điểm tâm linh sâu sắc gây tranh cãi từ hàng ngàn năm nay. Hai yếu tố thân vật lý và tâm trí có quan hệ với nhau một cách hoà hợp mà thời điểm khởi đầu diễn ra vào lúc thụ thai. Tâm trí của người bình thường vẫn tiếp tục tồn tại và hoạt động sau cái chết của thân vật lý. Với một số cá nhân có mức phát triển tâm linh vượt trội, thân vật lý và tâm trí sẽ chấm dứt tồn tại đồng thời.  

Khi con người tự đồng nhất mình với thân vật lý cùng tâm trí thì sẽ dẫn đến rất nhiều nỗi khổ và phiền não trong cuộc sống. Người ta thường nói đến ba chất độc chính của tâm trí là tham lam, giận dữ và mê muội (tham, sân, si). Chúng có thể được biến đổi thành những thứ hữu ích cho đời theo công thức: tham lam ® chia sẻ, giận dữ ® từ bi, mê muội ® ý thức. Làm chủ tâm trí hay siêu việt lên trên nó là mục tiêu cốt lõi của việc rèn luyện tâm linh.

Tâm trí không phải là một vật mà là một luồng, nó thay đổi vào mọi thời điểm. Xét về khía cạnh tâm linh, một trong những điều dễ nhận thấy là tâm trí luôn thoát ly khỏi các sự vật đang xảy ra “ở đây và bây giờ”, tức là nó luôn lan man vào quá khứ hoặc mơ mộng ở tương lai. Ngoài ra, tâm trí luôn thu nhận và phản ánh mọi sự vật với độ sai lệch đáng kể (tuỳ thuộc tâm trạng chủ quan và trình độ nhận thức của mỗi người) và mang tính nhị nguyên (phân chia sự vật thành 2 mức, ví dụ như đẹp và xấu, cao và thấp, yêu và ghét, sáng và tối, trong và ngoài, nhiều và ít, hay và dở, hơn và kém...). Cái bóng của tâm trí là bản ngã - tổ hợp những điều riêng tư về ký ức, chuỗi sự kiện, việc xảy ra, ý kiến, dư luận v.v... Chính bản ngã làm cho mỗi cá nhân phân biệt mình với mọi người xung quanh và tách mình khỏi cái tổng thể tồn tại. Đó là nguyên nhân nền tảng gây nên “bể khổ” trong cuộc sống của con người.  

Tâm thức: Yếu tố tâm thức hay “linh hồn” đóng vai trò đặc biệt đối với mỗi cá nhân. Nó dường như bị ẩn kín mặc dù hiện hữu khắp mọi nơi và là phần cốt lõi nhất của con người. Các đại sư từ xưa đến nay đều coi yếu tố này là “chủ”, còn thân vật lý và tâm trí chỉ là những công cụ tinh xảo và tiện dụng.

Một số người đôi khi gộp hai yếu tố tâm trí và tâm thức với nhau thành một thể thống nhất, rồi gọi nó là yếu tố “linh hồn”. Cách tiếp cận như vậy thường gây ra sự nhầm lẫn đáng tiếc trong việc phân tích các khía cạnh tâm linh khi tìm hiểu bản thể của con người.

Một trong những câu hỏi cổ đại và lý thú thường được đặt ra là: “Linh hồn” con người có bất biến và tồn tại vĩnh hằng không? Chúng ta sẽ tìm lời giải đáp cho vấn đề này.

       Như trên đã nhấn mạnh, hệ thống các cơ thể con người chịu sự tác động của “sóng tâm thức”. Do đó, ở con người phát sinh thuộc tính nhận biết qua các biểu hiện cảm xúc và trí tuệ. Cũng như máy thu hình tương tác với một ít sóng truyền hình để hiển thị hình ảnh, hệ thống các cơ thể của con người cũng phải tương tác với một ít “sóng tâm thức” để sinh ra sự nhận biết. Phần sóng đó chính là yếu tố tâm thức hay “linh hồn” trong mô hình nói trên. Rõ ràng, yếu tố tâm thức của mỗi người mang tính tương đối, thay đổi theo không - thời gian và có thể không xác định nếu tất cả các cơ thể con người bị phân rã. Nói cách khác, “linh hồn” của mỗi cá nhân không phải là một yếu tố bất biến và vĩnh hằng cho dù bình diện tâm thức là bất biến và vĩnh hằng.    

       Rất khó mô tả yếu tố tâm thức một cách trực tiếp. Trong thuyết tâm linh người ta thường đưa ra nhiều hình ảnh biểu dụ để gián tiếp nói về yếu tố này. Nó được ví như một tấm gương xoay tròn, sạch bong và không khiếm khuyết với khả năng phản chiếu trung thực thế giới xung quanh. Nó được coi là bầu trời trong vắt bên trong con người. Nó được nhìn nhận như một không gian thuần khiết mà không gì có thể để lại tỳ vết... Khác với yếu tố tâm thức, tâm trí con người là kết quả thể hiện của hệ thống các cơ thể với một số thuộc tính giống như camera hiển thị và thu giữ dấu vết của các sự vật xuất hiện xung quanh. Dĩ nhiên, độ trung thực của “cảnh vật” ghi nhận được phụ thuộc vào chất lượng của “công cụ” tâm trí đó.

       Trái lại, tâm thức không phải là một phẩm chất mà là một yếu tố vật chất tinh tế của con người. Yếu tố này cũng hiện hữu cùng với bất kỳ cá thể sinh vật nào. Nói cách khác, mọi cá thể sinh vật đều có “linh hồn” với bản chất hoàn toàn giống nhau. Sự khác biệt về trí tuệ và tình cảm giữa loài sinh vật này với loài sinh vật khác là do mức độ phức tạp của hệ thống các cơ thể của chúng. Như vậy, bình diện tâm thức đóng vai trò bản thể của con người và mọi sinh vật khác. Đây là kết luận có ý nghĩa nền tảng.

       Việc coi yếu tố này hay yếu tố khác là thực chất của con người chỉ mang tính tương đối và có thể lựa chọn tuỳ ý. Nhưng vì sao yếu tố tâm thức cần được coi là “chủ”? Câu trả lời cho vấn đề này được diễn giải như sau. Không có ý nghĩa gì nếu đồng nhất con người với cả ba yếu tố trên vì sớm muộn thì yếu tố tâm thức sẽ bị hai yếu tố đầu che lấp. Rõ ràng, hai yếu tố thân vật lý và tâm trí phụ thuộc hoàn toàn vào yếu tố tâm thức. Nhờ đó mà con người có trí tuệ và cảm xúc ở mức độ cao. Nhưng kinh nghiệm từ xa xưa đến nay đã cho thấy rằng:  con người từ kiếp này qua kiếp khác đều sống trong “bể khổ” do rất nhiều nguyên nhân như nghèo đói, bệnh tật, chiến tranh, thiên tai, già yếu... và tất cả đều hoảng sợ trước cái chết tất yếu của thân vật lý. Nếu coi một trong hai yếu tố đầu hoặc cả hai là thực chất của con người thì mỗi cá nhân phải chịu đựng sự đau khổ một cách trực tiếp trước những thảm cảnh xảy ra.

       Còn đối với yếu tố tâm thức thì hoàn toàn khác. Ngoài hiệu ứng tạo ra “nhận biết” cho thân vật lý và tâm trí, yếu tố tâm thức nói riêng và bình diện tâm thức nói chung cũng thể hiện vai trò độc lập là “chứng kiến” (quan sát) mọi sự vật trong các bình diện vật chất có cấu trúc. Ở đây cần hiểu từ “chứng kiến” theo nghĩa được gán cho nó. Khác với tâm trí, tâm thức “chứng kiến” mọi sự vật xảy ra một cách trung thực như soi qua một cái gương thuần khiết. Đáng tiếc là trong thực tế, sự hoạt động của tâm trí diễn ra như một nguồn nhiễu cản trở tâm thức “chứng kiến”, cho nên hiện thực mà con người tiếp nhận hàng ngày luôn bị bóp méo. Do đó, khi chấp nhận yếu tố tâm thức là thực chất thì con người có thể đạt đến trạng thái luôn “chứng kiến” mọi sự vật, kể cả “chứng kiến” mọi biểu hiện của thân vật lý và tâm trí. Trong trường hợp đó, một số khổ đau của thân vật lý và tâm trí có thể vẫn còn ở mức này hay mức khác, nhưng được con người cảm nhận một cách gián tiếp qua yếu tố tâm thức. Thậm chí, con người - tâm thức còn có thể “chứng kiến” cái chết của thân vật lý. Dĩ nhiên, con người - tâm thức không lo sợ đến cái chết của mình vì nó là một phần của bình diện tâm thức vốn tồn tại vĩnh hằng.    

       Khi yếu tố tâm thức trở thành “chủ” thì cuộc sống của con người sẽ có các thay đổi căn bản. Những người đạt được mục tiêu đó chính là các vị Phật. Họ là những cá nhân đã trải qua tu luyện tâm linh có kết quả.

       Như vậy, vai trò làm chủ của tâm thức thể hiện ở chỗ làm cho con người luôn ở trạng thái “chứng kiến” trước mọi sự vật xảy ra, kể cả với thân vật lý và tâm trí của người đó. Trong trường hợp này sự hoạt động của thân vật lý và tâm trí không còn diễn ra một cách vô ý thức. Hai yếu tố đó sẽ trở thành các công cụ bị điều khiển bởi một trực giác hoàn hảo phát sinh từ tâm thức. Con người với yếu tố tâm thức là “chủ” luôn có tâm trí tĩnh lặng và thân vật lý an bình, nên có thể tiếp nhận mọi sự vật xung quanh như chúng vốn là (loại bỏ sự can thiệp tự động của thân vật lý và tâm trí).

       Bằng phương pháp thực nghiệm nào có thể kiểm tra được tính đúng đắn của mô hình tâm linh về con người? Các đại sư cho rằng, chỉ có con đường tu luyện tâm linh để mỗi cá nhân tự mình chứng nghiệm. Dường như các loại máy móc tinh vi nhất đều vô hiệu trong vấn đề thực nghiệm này. Tất cả các vị Phật từ xưa đến nay đều coi tâm thức là thực chất của con người nhưng dù họ có nói điều này ra thì cũng ít người tin. Mối quan hệ lẫn lộn chủ - tớ giữa ba yếu tố thân vật lý, tâm trí và tâm thức là một bi hài kịch tự nhiên vĩ đại nhất mà tạo hoá đã sinh ra.

       Vì sao yếu tố tâm thức bỏ quên vai trò “chủ” của mình? Thực nghiệm và lý thuyết cho thấy rằng: điều kiện cần và đủ để yếu tố tâm thức của một cá nhân trở thành “chủ” là người đó không có bản ngã. Nói cách khác, vai trò “chủ” của tâm thức thể hiện ở một cá nhân khi và chỉ khi người đó là “không ai cả”. Đó chính là điều kiện chứng ngộ vô ngã (thành Phật) - hạt nhân của luận thuyết cơ sở mà các đại sư từ xưa đến nay theo đuổi trên con đường tu luyện tâm linh. Việc phát sinh bản ngã ở con người trong quá trình sống lâu dài đã làm mất dần vai trò chủ của yếu tố tâm thức và tạo ra vị thế mới cho thân vật lý cùng tâm trí. Ngược lại, khi có nhu cầu khôi phục lại vai trò chủ của yếu tố tâm thức thì các phương sách nhất định sẽ được áp dụng để loại bỏ bản ngã.

       Cũng cần lưu ý rằng, từ những điều trình bày trên đây có thể suy ra nhận xét sau: không thể chế tạo được bất kỳ dạng rôbơt điện tử thông minh nào với khả năng cảm xúc và trí tuệ tương tự như con người.

       Vũ trụ là một tổng thể sống?

       Vũ trụ tổng thể hay cái Một phải chăng là một thực thể sống? Câu hỏi này đã phát sinh từ hàng ngàn năm trước đây. Để có câu trả lời cần mở rộng mô hình tâm linh về con người cho vũ trụ. Mô hình như vậy cũng bao gồm ba yếu tố.

Thân vũ trụ:  Toàn bộ vật chất hữu hình (bình diện vật lý) đóng vai trò thân vũ trụ. Như trong phần 3 đã chỉ ra, quá trình hình thành sự sống mang tính phổ quát nên tại nhiều hành tinh trong vũ trụ rất có thể cũng có các dạng sinh vật phát triển như trên bề mặt Trái Đất. Nhìn một cách bao quát sẽ thấy rằng, thân vũ trụ có biểu hiện như một tập hợp thống nhất của mọi bộ phận vật lý (cơ thể vật lý) mà thời điểm ra đời có thể là ứng với khoảnh khắc phát sinh Vụ nổ lớn. Như vậy, thân vũ trụ đã được sinh ra khoảng 13,7 tỷ năm trước, nó đang trong thời kỳ “trưởng thành” và đến một lúc nào đó chắc chắn sẽ tan rã (chết).    

Tâm trí vũ trụ: Rất có thể, hệ thống toàn bộ các bình diện vật chất đang tạo nên một phẩm chất nhận biết về trí tuệ và cảm xúc ở quy mô vũ trụ. Đó chính là tâm trí vũ trụ. Các nhà tâm linh vẫn tin rằng, cái Một cảm nhận được bản thân và có một mức độ nhất định về trí tuệ.  

Tâm thức vũ trụ: Bình diện tâm thức đóng vai trò linh hồn vũ trụ. Tất cả các sự vật có cấu trúc của vũ trụ đều chịu tác động của “sóng tâm thức” và hợp nhất với nhau thành một tổng thể vô hạn. Như vậy, xét theo mô hình tâm linh thì vũ trụ và con người tương đồng nhau. Sự khác biệt giữa hai đối tượng này chỉ ở quy mô của các yếu tố cấu thành. Hoàn toàn có lý khi nói rằng, con người là một “tiểu vũ trụ” hay con người là mô hình thu nhỏ của vũ trụ. 

Nếu vũ trụ là một tổng thể sống thì cơ chế tâm trí của nó được vận hành. Cái bóng của tâm trí vũ trụ được gọi là đại ngã. Vũ trụ với đại ngã như vậy có cảm nhận đau khổ như con người với tiểu ngã hay không? Câu trả lời có lẽ là “không”, bởi vì vũ trụ là vô hạn. 

___________________________________

(1) Theo các nhà nghiên cứu và thực hành tâm linh, mọi người đều tiềm ẩn con mắt thứ ba ở tại vị trí điểm giữa hai chân lông mày. Do bẩm sinh, ngẫu nhiên hay tập luyện, một cá nhân có thể khai mở thị giác đặc biệt (thấu thị).

(2Bà Barbara Ann Brennan là nhà khoa học, nhà tâm lý trị liệu, nhà thực hành chữa trị tâm linh rất nổi tiếng ở Hoa Kỳ. Sự hiểu biết sâu rộng trong lĩnh vực cấu trúc năng lượng của con người và các kết quả chữa trị thành công kỳ diệu của bà đã được mô tả một cách tỷ mỷ, có hệ thống trong cuốn Hands of Light (Bàn tay ánh sáng), xuất bản tại New York năm 1988.

 

VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần thứ năm

Phật là ai? Nếu một câu hỏi như vậy được đặt ra cho một vị đại sư thì chúng ta sẽ nhận được câu trả lời bằng... sự im lặng! Nhưng dù sao cũng nên tìm hiểu vấn đề "Phật là ai?". Trong phần này của cuốn sách dường như tác giả muốn đưa ra một cách giải đáp cho câu hỏi nói trên.



- Phần thứ năm -

CHỨNG NGỘ

VÔ NGÃ

 

Sự kiện một người có thể chứng ngộ vô ngã (thành Phật) sau một thời gian tu luyện nhất định đã tạo nên một bức màn vô cùng huyền bí trong cuộc sống đời thường. Liệu có thể tiếp cận vấn đề này một cách logic? Dựa trên điều kiện nào hiện tượng chứng ngộ vô ngã xảy ra? Những con đường có thể để tu luyện?... Hàng loạt câu hỏi được đặt ra nhưng chưa có câu trả lời khả dĩ. Xuất phát từ thuyết vũ trụ đa chiều, đặc biệt là sự tồn tại của bình diện tâm thức, chúng ta sẽ lý giải đôi điều có liên quan.     

       Vị trí tiến hoá của con người

       Xét theo khía cạnh logic, sự xuất hiện con người trên hành tinh chúng ta chỉ là một mắt xích trong dây chuyền tiến hoá của vật chất khởi nguồn từ bình diện tâm thức. Một số nhà tâm linh tin rằng, sự tiến hoá vật chất trên bề mặt Trái Đất phải trải qua 4 mức sau đây: địa quyển, sinh quyển, trí quyển và phật quyển. Việc tìm hiểu các mức đó một cách tổng hợp sẽ cho thấy những điều bí ẩn bất ngờ. 

       Trước hết cần lưu ý rằng, mỗi mức tiến hoá của các cấu trúc vật chất có quan hệ chặt chẽ với “hiệu ứng tâm thức” mà kết quả là thể hiện “nhận biết” ở một dạng nhất định.

Địa quyển: Mức địa quyển của vật chất ứng với trạng thái ngủ tuyệt đối - chưa có biểu hiện “nhận biết” - đó là dạng vật chất tiền sự sống. Các khối vật chất như đất, đá... chưa được cấu tạo thành hệ thống năng lượng phức tạp đủ để trở nên linh hoạt bởi tác động của “sóng tâm thức”. Các khối vật chất địa quyển hoàn toàn bất động, vô cảm, vô trí và không có tự do. Vật chất ở giai đoạn này tuân thủ cứng nhắc luật nguyên nhân - hậu quả của thế giới tự nhiên.    

Sinh quyển: Từ sinh quyển được hiểu theo nghĩa sự sống, tiền ý thức. Mức sinh quyển gắn liền với sự xuất hiện và phát triển đời sống của các cá thể thực vật và động vật. Các thành viên sinh quyển đã và đang thể hiện sự hoạt động sống muôn hình muôn vẻ, có khả năng di động chút ít hoặc chuyển động tự do. Thuộc tính “nhận biết” của chúng tựa như ở trạng thái , nhưng vẫn có biểu hiện rõ nét trong hoạt động sống hàng ngày. Tại đây luật nguyên nhân - hậu quả vẫn còn thể hiện trực tiếp, nhưng không cứng nhắc như đối với địa quyển; một chút ít tự do trở thành có thể nên các kết cục ngẫu nhiên bắt đầu xảy ra; một vài yếu tố lỏng lẻo và hổ lốn về cái “ta” bắt đầu thành hình.  

       Loài vật nói chung sống theo quá khứ và hầu như không có ý tưởng rõ rệt về tương lai - chúng không thể lập kế hoạch, không thể suy nghĩ trước một cách mạch lạc và lâu dài. Đối với chúng, bất kỳ cái gì đã từng xảy ra trong quá khứ đều được trông đợi xảy ra trong tương lai. Vì vậy, tương lai của loài vật ít nhiều giống như quá khứ, nó là sự lặp lại; quá khứ đóng vai trò thống trị, thời gian đi vào qua quá khứ, cái “ta” đi vào qua quá khứ. Loài vật sống một cách an bình, thuận theo tự nhiên và vô ý thức.   

Trí quyển: Mức trí quyển của vật chất gắn liền với sự nảy sinh tâm trí, tự ý thức của loài người. Khi tự ý thức tới thì điều chắc chắn đi kèm là cái “tôi” có mặt. Sự thể hiện phong phú của tâm trí con người làm xuất hiện khuynh hướng cuộc sống hướng tới tương lai. Con người sống trong xã hội càng văn minh thì càng hướng tới tương lai nhiều hơn. Hậu quả của việc sống thiên về tương lai là trở nên lo âu và căng thẳng. Loài vật sống một cách an bình vì chúng hầu như không nghĩ tới tương lai. Con người có nhu cầu hướng tới tương lai, tức là phải chịu lo âu và căng thẳng.

Về mặt tổng thể, thuộc tính “nhận biết” của con người còn ở trạng thái tựa như vừa mới tỉnh dậy sau một cơn mơ rất dài. Nó đang trong thời kỳ trung gian giữa ngủ và tỉnh thức. Bởi vậy, tồn tại hàng loạt các hành vi vô ý thức rất có hại mà con người dễ dàng thực hiện hàng ngày. Tại mức trí quyển, con người nhận được sự tự do chưa hoàn hảo là chọn lựa. Mỗi cá nhân có khả năng tự do nhất định về chọn lựa cái này hay cái khác đối với nhiều yếu tố và sự kiện xảy ra. Bởi vậy, luật nguyên nhân - hậu quả đôi khi ít nhiều biến dạng và thể hiện ra ngoài không rõ ràng. Nhưng luật đó vẫn được duy trì ở những hình thái tương đối phức tạp và khó nhận biết hơn.

Điều đáng chú ý tại mức trí quyển là hầu hết mọi người tự đồng nhất thân vật lý và tâm trí của mình với cái “tôi”, không ngừng vun đắp cho yếu tố chủ quan là bản ngã - tổ hợp những điều riêng tư về ký ức, chuỗi sự kiện, việc xảy ra, ý kiến, dư luận v.v... Đó được coi là nguyên nhân gốc rễ dẫn đến nhiều tai hoạ và nỗi khổ triền miên trong quá trình phát triển cuộc sống con người. Tuy kết cục như vậy nhưng lại có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy sự tìm tòi khám phá nội dung của mức tiến hoá vật chất tiếp theo.

Phật quyển: Sự tiến hoá vật chất ở mức phật quyển đang trong quá trình hình thành. Nó gắn liền với sự xuất hiện thế hệ đông đảo những người có thuộc tính “nhận biết” đột biến về chất; trong Phật giáo họ được gọi một cách tôn kính là những vị Phật.

Từ “phật” (tiếng Phạn là buddha) đơn giản có nghĩa là người tỉnh thức. Đó là người đã chứng ngộ vô ngã - người siêu việt khỏi tâm trí, luôn tràn đầy nhận biết, kể cả trong giấc ngủ. Các vị Phật biết rõ câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai?”, đặt dấu kết thúc cho việc theo đuổi các mục đích vì cái “tôi” và nhu cầu là “ai đó” biến mất hoàn toàn. Họ là những người thể hiện “nhận biết” hoàn hảo và luôn sống trong niềm phúc lạc lớn lao vì vắng bóng tham, sân, si.

Một vị Phật khi còn sống có thể đã đạt đến một trong hai trạng thái là tâm linh (cảm giác về cái “tôi” biến mất, chỉ cái “ta” hiện hữu) hoặc vũ trụ (cảm giác về cái “ta” biến mất, chỉ cái toàn bộ hiện hữu). Không thể nói điều gì cụ thể liên quan đến các trạng thái cao hơn, thí dụ trạng thái niết bàn, vì chỉ có thể đạt tới nó sau cái chết của thân vật lý và khi đó mọi thứ dường như tan biến vào “rỗng không”. Số những người đã chứng ngộ vô ngã vẫn còn quá ít. 

Kinh nghiệm thực tế và lý thuyết cho thấy rằng:  một cá nhân có thể trở thành vị Phật khi còn rất trẻ, sau đó vẫn có thể lao động, sinh sống gia đình và hoạt động xã hội trong cộng đồng dân cư. Một vị Phật có những ưu thế đáng chú ý sau đây so với người bình thường:

- Thấu triệt điều cốt lõi rằng, tâm thức là yếu tố bản chất của mỗi cá nhân;

- Không bị lôi cuốn bởi các yếu tố tham, sân, si - nguồn gốc của mọi sự đau khổ;

- Biết rõ ý nghĩa đời sống con người là ở chỗ không ngừng rèn luyện để nâng cao mức độ nhận biết;

        - Tình cảm và lý trí về đời sống hàng ngày không bị lệ thuộc vào thân vật lý, tâm trí, các mối quan hệ và môi trường xung quanh;

 - Có trí tuệ siêu việt (tâm trí luôn tĩnh lặng, trực giác hoàn hảo, dễ dàng tiếp cận nguồn tri thức vũ trụ).

       Việc lý giải về khả năng hầu như chắc chắn phát sinh thế hệ những vị Phật (phật quyển) có liên quan đến sự hiện hữu đa chiều thực tại của vũ trụ. Ngoài ra, bất kỳ cá nhân nào thực chất cũng là một vị Phật tiềm ẩn. Tổ hợp các điều kiện khởi đầu giúp con người hướng tới chứng ngộ một cách dễ dàng và đại chúng hơn chính là kết quả đỉnh cao về thế giới quan, khoa học công nghệ, nỗi khổ đau khôn cùng mà hàng triệu người ngày càng phải đương đầu khốc liệt, sự phổ biến rộng rãi tri thức tâm linh cũng như nhiều phương sách công hiệu dẫn dắt người tu luyện.

       Có cơ sở để hy vọng sâu sắc rằng, xã hội loài người trong giai đoạn phật quyển sẽ thay đổi cơ bản về chất: hoà bình ngự trị khắp mọi nơi, con người và thiên nhiên trong mối liên hệ hài hoà bền vững, các tệ nạn nói chung rất hiếm xảy ra, mỗi cá nhân được giáo dục và rèn luyện một cách tinh tế để có khả năng tạo dựng cuộc sống hạnh phúc cũng như không ngừng tự hoàn thiện mình theo các tiêu chí mới về thể chất và tinh thần.

Sau mức phật quyển, vật chất dần trở lại trạng thái phi cấu trúc, kết thúc một chu trình tiến hoá của nó.

        Cơ chế chứng ngộ

       Sự chứng ngộ vô ngã hay siêu việt khỏi tâm trí (thành Phật) là một hiện tượng bí ẩn xảy ra với con người. Trong lịch sử nhân loại, số các vị Phật nổi tiếng chỉ có thể được đếm trên đầu ngón tay. Việc tu luyện thành Phật là một quá trình rất khó khăn và lâu dài. Phương pháp luận về cơ chế chứng ngộ và thực hành tâm linh ít khi được lý giải rõ ràng, nhất quán. Theo cách hiểu logic, hầu như tất cả các thuyết tâm linh về chứng ngộ đều dựa trên tiên đề ngầm định là vũ trụ bao gồm vô số chiều thực tại, trong đó có bình diện tâm thức với các tính chất siêu việt; chiều thực tại này đôi khi được hình tượng hoá bởi Niết Bàn, Thượng Đế, Chúa Trời... 

Ở đây sẽ xét đến cơ chế chứng ngộ xuất phát từ cấu trúc năng lượng và mô hình tâm linh của con người. Trước hết cần làm rõ một số thuật ngữ.

Ý thức, tự ý thức: Chúng ta sẽ coi “ý thức” là sự phản ánh và tái hiện thực tại xung quanh vào lý trí của một sinh thể, còn “tự ý thức” - sự phản ánh và tái hiện bản thân vào lý trí của sinh thể đó. Từ “sinh thể” được dùng để chỉ con người, động vật hay sinh thể năng lượng (không nhìn thấy).

Khi nói đến ý thức và tự ý thức, cần nhớ chúng chỉ là một phần thể hiện của thuộc tính “nhận biết” có nguồn gốc từ bình diện tâm thức. Hơn nữa, thực tại mà ý thức phản ánh và tái hiện vào lý trí chỉ có thể thuộc một bình diện vật chất nhất định (bình diện vật lý hoặc một bình diện không nhìn thấy). Bình diện đó được gọi là bình diện hiện hành (chiều thực tại hiện hành). Khi thức, đa số mọi người đều tiếp nhận bình diện vật lý là chiều thực tại hiện hành.

Như trên đã đề cập đến, con người là một hệ thống gồm thân vật lý và các cơ thể năng lượng không nhìn thấy. Chúng liên kết với nhau qua các luân xa. Từng cơ thể liên thông với một chiều thực tại xác định, ví dụ thân vật lý liên thông với chiều vật lý. Khi ở trạng thái tĩnh lặng, có thể xảy ra hiện tượng dịch chuyển tự ý thức từ thân vật lý tới một cơ thể năng lượng nào đó, tức là liên thông với chiều thực tại tương ứng. Khi đó, ý thức của con người có thể sẽ phản ánh và tái hiện hiện thực xung quanh của chiều thực tại mới (khác chiều vật lý). Nếu xét một cách hình thức thì sự định hướng “tự ý thức” từ cơ thể này qua cơ thể khác có phần tương tự như việc sử dụng “con trỏ điện tử” để định hướng sự hoạt động từ cửa sổ này qua cửa sổ khác trong hệ thống Windows điều hành máy vi tính. Chúng ta sẽ gọi sự định hướng tự ý thức như vậy là con trỏ tâm thức, còn cơ thể mà ở đó tự ý thức có mặt - cơ thể hiện hành

       Một trong những điều bí ẩn từ lâu đã được các đại sư khám phá là nếu con trỏ tâm thức của một người nằm ở cơ thể tinh tú (cơ thể năng lượng thứ tư), thì người đó ở trạng thái ngủ. Đặc biệt hơn, nếu con trỏ tâm thức của một người bất chợt trở nên thường trực ở tại cơ thể ête mẫu (cơ thể năng lượng thứ năm) hoặc cơ thể thượng giới (cơ thể năng lượng thứ sáu) thì người đó đã chứng ngộ vô ngã, tức là sự cảm nhận cái “tôi” biến mất. Trong trường hợp này, con trỏ tâm thức có thể dễ dàng dịch chuyển từ cơ thể hiện hành tới bất kỳ cơ thể khác có số thứ tự thấp hơn. Theo kinh nghiệm, sự chứng ngộ diễn ra một cách thụ động, đột biến và được duy trì bền vững.

Cơ chế chứng ngộ vô ngã có thể được phát biểu ngắn gọn như sau: khi hệ thống các cơ thể con người thoả mãn những điều kiện nhất định thì con trỏ tâm thức sẽ trở nên thường trực tại cơ thể ête mẫu hoặc cơ thể thượng giới.

       Có hai điều kiện cơ bản cần được đáp ứng. Điều kiện đầu tiên là sự tinh khiết của thân vật lý và các cơ thể năng lượng, nghĩa là cần phải thực hiện những biện pháp nào đó để làm trong sạch các hành vi của “thân, khẩu, ý”, tạo nên sự hài hoà giữa các cơ thể. Điều này có liên quan đến quá trình khai mở các luân xa. Còn điều kiện thứ hai đòi hỏi có nhiều thời gian tĩnh lặng và thả lỏng tâm trí để tự ý thức con người ngày càng trở nên sáng tỏ và linh động hơn.

       Ngoài ra, sự hiểu biết thấu đáo về bản chất của vũ trụ và con người cũng sẽ hỗ trợ đắc lực cho người tu luyện nhanh chóng đi tới kết quả chứng ngộ.   

Những con đường chứng ngộ 

Có nhiều con đường dẫn đến sự chứng ngộ vô ngã (thành Phật). Đó là những phương sách tạo ra sự tác động gián tiếp để con trỏ tâm thức có thể chuyển dịch qua lại giữa thân vật lý và các cơ thể năng lượng. Ngoài việc hầu như bắt buộc là phải tinh khiết hoá các hành vi của “thân, khẩu, ý”, các nhà thực hành tâm linh thường đi theo một trong ba con đường chủ yếu mà mục tiêu cuối cùng là loại bỏ vai trò “chủ” của tâm trí. 

Con đường chứng kiến: Phương sách này dựa trên ý tưởng sau đây. Yếu tố tâm thức hay “linh hồn” của một người có khả năng “phản chiếu” một cách độc lập tựa như cái gương, tức là nó có thể “chứng kiến” không chỉ mọi sự vật xung quanh mà cả bản thân người đó. Nhưng con người từ lâu đã lãng quên điều cốt lõi này, thường chỉ chú ý đến ngoại cảnh mà ít khi “chứng kiến” bản thân. Cần phải nhớ lại và tạo ra hoàn cảnh thuận lợi để yếu tố tâm thức phát huy khả năng của nó. Việc một người thực hành chứng kiến một phần hoặc toàn bộ bản thân mình được gọi là “thiền tâm linh” hay “thiền zen” (khác với các dạng thiền dưỡng sinh). Quá trình thiền zen sẽ làm cho thân vật lý và tâm trí mất dần vai trò “chủ”, còn yếu tố tâm thức sẽ có cơ hội thế vào vị trí vốn có của mình. Theo truyền thuyết, phương sách chứng kiến như vậy đã được Phật Thích Ca áp dụng một cách bền bỉ trong quá trình tu luyện tâm linh.

Điều cơ bản nhất của thiền zen là nội dung của cách chứng kiến. Thường chúng ta chỉ chứng kiến một chiều ra ngoài, tức là chỉ chú ý đến khách thể mà quên mất chủ thể. Ví dụ, khi một người ngắm nhìn một bông hoa thì người đó không có nhận biết bản thân. Ở đây bông hoa là khách thể, còn người ngắm hoa - chủ thể.

Nhưng đối với thiền zen, việc chứng kiến phải diễn ra hai chiều (nhận biết đồng thời cả chủ thể và khách thể) hoặc một chiều vào trong (chỉ nhận biết chủ thể). Điều này tưởng chừng như đơn giản và dễ thực hiện, nhưng trong thực tế không phải vậy. Vấn đề là ở chỗ con người thường chứng kiến qua tâm trí, chứ không phải bằng tâm thức. Nếu chúng ta sử dụng tâm trí để nhận biết thì không thể chứng kiến được chính mình (theo luật “bất toàn” - xem phần 6). Chỉ với yếu tố tâm thức thì việc thiền zen mới có thể được thực hiện.  

       Quá trình thiền zen để đi đến chứng ngộ vô ngã (thành Phật) diễn ra theo ba giai đoạn. Đầu tiên là phải chứng kiến thân vật lý của mình. Dần dần, thiền nhân sẽ trở nên tỉnh táo, có ý thức hơn về mỗi cử chỉ, mỗi hành động của bản thân. Đến một lúc nào đó thì một số hành vi vô ý thức tự biến mất, thân vật lý trở nên thư thái và hài hoà sâu sắc.  

       Giai đoạn thứ hai là chứng kiến các ý nghĩ của mình. Theo những người có thị giác đặc biệt, các ý nghĩ có nguồn gốc từ cơ thể tâm thần (thể trí), tồn tại ở dạng những cấu trúc năng lượng thuộc cơ thể cảm xúc (thể vía) và được cơ thể này trung chuyển vào bộ não.

Các ý nghĩ tinh tế hơn thân vật lý, do vậy việc làm chủ chúng không dễ dàng. Khi trở nên nhận biết các ý nghĩ của mình thì chúng ta sẽ rất kinh ngạc về những gì xảy ra bên trong bộ não. Nếu ghi lại mọi điều đang xuất hiện trong đầu thì chúng ta không thể tin được và đặt ra câu hỏi: do đâu mà tất cả những thứ đó lại phát sinh? Một người bình thường có thể nhận ra một tâm trí điên khùng của chính mình. Vì thường xuyên không “chứng kiến” tiến trình của các ý nghĩ, nên chúng ta phó mặc toàn bộ cái điên khùng đó cứ tuôn chảy như dòng nước ngầm. Nó có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của mỗi người và toàn bộ xã hội.

Chính thiền zen có thể làm thay đổi điều đó. Thông qua việc “chứng kiến”, dần dần các ý nghĩ bắt đầu rơi vào trong một số hình mẫu nhất định, sự hỗn loạn của chúng ngày càng trở nên hài hoà hơn, rồi chúng trở nên tĩnh lặng và dễ điều khiển trong mối quan hệ với thân vật lý. Luồng các ý nghĩ như vậy tồn tại trên cơ sở sự đồng nhất của con người với chúng. Khi điều đó không xảy ra thì cuộc sống riêng hỗn loạn của các ý nghĩ sẽ dần dần chấm dứt.    

       Việc “chứng kiến” mọi biểu hiện xúc động, tình cảm và tâm trạng con người là nội dung thiền zen ở giai đoạn thứ ba. Mặc dù các đối tượng được nhận biết rất tinh tế, nhưng nếu thiền nhân có sự kiên trì và nỗ lực thực hành “chứng kiến” thì sẽ có kết quả. Đến một lúc nào đó, các biểu hiện xúc động, tình cảm và tâm trạng sẽ hoà nhập thành một, vận hành đồng thuận cùng nhau như một dàn nhạc để tạo điều kiện cho giai đoạn tiếp theo. Cần lưu ý rằng, thiền nhân trong cả ba giai đoạn nói trên chỉ cần nỗ lực “chứng kiến” lúc đầu, còn đến một thời điểm nhất định thì sự “chứng kiến” sẽ diễn ra một cách tự nhiên (phi nỗ lực).

       Thiền zen cũng có thể được thực hiện đồng thời với hành động. Đầu tiên là chứng kiến những điều đơn giản như đi, đứng, ngồi, nằm... trong khi vẫn nhớ tới mình. Rồi chứng kiến những hành vi phức tạp hơn do bản thân thực hiện một cách có ý thức. Đến một lúc nào đó việc thiền sẽ diễn ra một cách phi nỗ lực, người làm và hành động tương ứng dường như được chứng kiến bởi một đối tượng vô hình.        

Sau ba giai đoạn, các điều kiện thuận lợi để yếu tố tâm thức trở thành “chủ” đã được thiết lập. Sự “chứng kiến” tối thượng - nhận biết tâm thức - sẽ xuất hiện một cách thụ động và bất thần. Thiền nhân không thể tự quyết định điều này. Kết quả cuối cùng là thiền nhân có thể trở thành người tỉnh thức - vị Phật. Và chỉ trong sự tỉnh thức như vậy con người mới nhận ra phúc lạc là gì. Thân vật lý biết tới hoan lạc, tâm trí biết tới hạnh phúc, trái tim biết tới niềm vui, còn “linh hồn” biết tới phúc lạc - niềm vui vô điều kiện.

       Các đại sư thường nói rất nhiều về con đường chứng kiến, nhưng để nắm được thực chất của nó đòi hỏi một quá trình suy ngẫm sâu sắc. Có thể lột tả con đường chứng kiến theo một cách hình tượng như sau. Khi ai đó đối diện với một sự vật X thì sẽ có một trong hai cách hành xử được thể hiện: chứng kiến hoặc xem xét X. Rõ ràng, hai cách hành xử này có bản chất hoàn toàn khác nhau.

       Chứng kiến X được tâm thức thực hiện một cách liên tục từ thời điểm này qua thời điểm khác và không để lại dấu vết, giống như cái gương phản chiếu X trước nó. Tại bất kỳ thời điểm nào và ở bất kỳ đâu, cái gương - tâm thức luôn luôn có khả năng phản chiếu một cách trung thực mọi sự vật xảy ra xung quanh nó. Điều căn bản cần được ghi nhớ là: cái gương - tâm thức không lưu giữ bất kỳ dấu vết nào của X và không có bất kỳ thái độ nào đối với những gì liên quan đến X. Vì nó chỉ đơn thuần chứng kiến sự vật một cách vô tư nên không tạo ra sự nhiễu loạn nội tâm. Nói cách khác, hai từ chứng kiếnphản chiếu ở đây là đồng nghĩa.  

       Mặt khác, việc xem xét X do tâm trí thực hiện một cách liên tục từ thời điểm này qua thời điểm khác, nhưng kèm theo sự đánh giá tự phát và có giữ lại dấu vết của X, tương tự như một thiết bị với các chức năng đồng thời thu - xử lý - đánh giá thông tin về X. Cần đặc biệt chú ý rằng, có nhiều chi tiết liên quan đến X được khắc ghi bởi tâm trí và trong nó luôn luôn diễn ra một “thái độ” tiếp nhận sự vật mang tính chủ quan. Ví dụ, khi đứng trước một bông hoa thì tâm trí sẽ có “thái độ” là bông hoa đẹp hay xấu, tươi mới hay héo tàn, đắt tiền hay giá rẻ... Chính “thái độ” tiếp nhận sự vật như vậy làm cho con người xa rời chân lý tự nhiên và dễ rơi vào tâm trạng loạn động, đôi khi không thể chịu đựng nổi trước những sức ép tâm - sinh lý. 

       Tóm lại, nếu con người học cách tiếp nhận mọi sự vật qua tâm thức thì vai trò “chủ” của tâm trí dần dần sẽ bị loại bỏ, nó sẽ trở thành một khí cụ rất hiệu quả khi được sử dụng.     

Con đường yêu thương: Việc lý giải phương sách này dựa trên cấu trúc năng lượng của con người. Theo bà Brennan, nếu một người có luân xa 5 và luân xa 6 được khai mở và chúng liên kết với nhau, thì tình yêu thương vô điều kiện ở người đó sẽ tuôn chảy, sẽ cảm thấy bản thân và vũ trụ hoà nhập làm một. Cơ sở mà phương sách yêu thương dựa vào tương tự với nội dung đảo lại của “mệnh đề” vừa nêu. Nó được phát biểu như sau:  nếu một cá nhân luôn luôn duy trì tình yêu thương vô điều kiện đối với tất cả mọi thứ thì con trỏ tâm thức sẽ có thể trở nên thường trực ở cơ thể năng lượng thứ  6, làm cho người đó cảm thấy bản thân và vũ trụ hoà nhập với nhau - trở thành vị Phật.

Một trong những người sùng đạo nổi tiếng đã đi theo con đường yêu thương là Chúa Jesus. Ngài đã răn dạy các tông đồ: “Phải hết lòng, hết linh hồn, hết lý trí, hết sức kính yêu Chúa là Thượng Đế của con. Hãy thương yêu người khác như chính mình”; “Hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ bức hại các con”. Tất nhiên, các tín đồ theo con đường yêu thương trước hết cũng phải thường xuyên tự gột rửa bản thân để sao cho các hành vi “thân, khẩu, ý” của họ đều trở nên trong sạch.

Trong thuyết tâm linh, người ta ví sự chứng ngộ vô ngã (thành Phật) là tột đỉnh của mọi giá trị: chân lý, yêu thương, chứng kiến, thực tại, toàn bộ. Tại đỉnh cao nhất chúng là một thể thống nhất. Sự tách biệt của chúng chỉ xảy ra ở mức độ thấp hơn. Chúng càng trở nên thuần khiết khi càng lên cao. Bậc thang thấp nhất của tình yêu thương là sự thèm khát dục tính, còn bậc thang cao nhất - sự sùng kính, lời cầu nguyện. Trong sự thèm khát, tình yêu thương thuộc về thể chất và chỉ chiếm một tỷ lệ ít ỏi, phần còn lại là những thứ khác như sở hữu, ghen tuông, giận hờn, bạo hành...             

Sự chuyển tiếp của tình yêu thương từ bậc thang này lên bậc thang khác một phần phụ thuộc vào quá trình dịch chuyển con trỏ tâm thức từ cơ thể này đến cơ thể khác cao hơn. Nhà thực hành xuất thần William Buhiman đã viết như sau về tâm trạng của mình khi ở trong cơ thể năng lượng thứ ba: “Toàn bộ con người tôi chìm ngập trong biển cả năng lượng thuần khiết và yêu thương vô điều kiện”.

Như vậy, hai con đường yêu thương và chứng kiến là khác nhau đối với phần đầu cuộc hành trình tâm linh. Đến lúc đạt tới điều tối thượng thì chúng là một. Người theo con đường yêu thương sẽ tìm thấy chứng kiến như một hệ quả. Ngược lại, người theo con đường chứng kiến sẽ tìm thấy yêu thương như một sản phẩm đi kèm. Chúng là hai mặt của cùng một đồng tiền. Kinh nghiệm cho thấy rằng, nếu ai đó thực hành chứng kiến mà thiếu tình yêu thương thì vẫn còn phiến diện; mặt khác, nếu tình yêu thương của ai đó mà không có nhận biết (chứng kiến) thì nó chưa thật sâu sắc.

       Trong thực tế có thể lấy một trong hai thứ đó để làm tiêu chuẩn đánh giá: nếu một người theo con đường chứng kiến thì hãy coi tình yêu thương là hệ quả, còn nếu theo con đường yêu thương - chứng kiến là hệ quả.

Con đường phi chọn lựa:  Phương sách này dựa trên một cơ sở rất đơn giản: vai trò “chủ” của tâm trí được thể hiện qua việc chọn lựa trước mọi sự vật xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Vì vậy, nếu một người luôn luôn chấp nhận mọi thứ (phi chọn lựa) thì tâm trí bị đẩy về thứ yếu và sớm muộn nó cũng sẽ trở nên thụ động (tĩnh lặng). Cách thức phi chọn lựa đã được thực hành bởi một trường phái tâm linh nổi tiếng ở Trung Hoa cổ đại mà người đứng đầu chính là Lão Tử.

Con đường phi chọn lựa hay chấp nhận toàn bộ rất khó được thực hiện. Những người đi theo con đường này cần phải ghi nhớ những quy tắc chỉ dẫn rất khó chịu. “Đừng chọn lựa, hãy bình thản chấp nhận mọi thứ trong cuộc sống khi chúng đến. Đừng nỗ lực để đạt tới bất cứ mục tiêu nào, không bận tâm tới tương lai và quá khứ, hãy tận hưởng từng khoảnh khắc hiện tại...”. Nếu thực hiện được như vậy thì sẽ nảy sinh trong tâm hồn con người một sự hoà âm êm dịu.

Xã hội mà chúng ta đang sống mang tính nhị nguyên. Một sự vật bất kỳ luôn có thể được phân chia thành hai mặt khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Tâm trí con người không thể tự nguyện chấp nhận “mặt trái” của một cái gì đó, ngược lại nó luôn hướng tới “mặt phải”. Đó chính là nguyên nhân sâu xa làm cho loài người đau khổ.

Sự chấp nhận phi chọn lựa trước mọi hoàn cảnh sẽ làm cho một cá nhân hài hoà với tự nhiên và ít bị lệ thuộc vào điều kiện sống của xã hội. Các mặt khác nhau của mỗi thứ sẽ được chấp nhận như một thể thống nhất.

Kết quả cuối cùng có thể đạt được bằng con đường phi chọn lựa là “tiểu ngã” của người hành đạo sẽ hoà nhập hoàn toàn vào “đại ngã” của vũ trụ - con người sẽ có cảm nhận bản thân mình đồng nhất với vũ trụ. Một cá nhân như vậy chính là vị Phật.

 

VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần thứ sáu
(Bình diện tâm thức có phần tương tự như chân không lượng tử - Nó là trạng thái cơ bản tận cùng của vạn vật. nó vô hướng, trung hòa, mang năng lượng cực tiểu, chẳng hề vẩn gợn chút vật chất kể cả điện từ trường. Do những nhiễu loạn của năng lượng trong nó mà vật chất nẩy sinh, tương tác, biến chuyển, phân rã và trở về với chính nó, cứ thế tiếp nối vòng sinh hủy.

- Phần thứ sáu -

MINH CHỨNG VỀ

BÌNH DIỆN TÂM THỨC

 

 Mặc dù sự hiện hữu bình diện tâm thức được suy ra từ định đề về tính đa chiều thực tại của vũ trụ, nhưng có nhiều sự kiện vật lý và tâm linh dường như là các minh chứng về nó. Sự tồn tại của bình diện tâm thức có vai trò nền tảng đối với cả khoa học, tôn giáo và toàn bộ sự sống trong vũ trụ. Bởi vậy để chúng ta cùng suy ngẫm, dưới đây sẽ chỉ ra một số yếu tố vật lý và tôn giáo hướng về một đối tượng siêu việt nào đó, rất giống với bình diện tâm thức.  

        Mối liên kết siêu sáng

       Các nhà vật lý đang sử dụng cả toán học lẫn thực nghiệm để tìm hiểu sự hiện hữu mối liên kết “siêu sáng” phổ biến tức thì trong cơ cấu vật chất.

       Năm 1964, nhà vật lý J.S. Bell đã cho công bố một bằng chứng toán học gọi là định lý Bell. Theo định lý này, các hạt hạ nguyên tử liên kết với nhau một cách phi thời gian và phi không gian, thể hiện ở chỗ bất kỳ điều gì xảy ra cho một hạt cũng tác động đến các hạt khác ngay lập tức. Hiện tại, định lý Bell đã được chứng minh bằng thực nghiệm.  

       Định lý Bell trái với thuyết tương đối của Einstein vì thuyết này khẳng định rằng, không có hạt nào chuyển động nhanh hơn ánh sáng. Rõ ràng, hiệu ứng mà định lý Bell đề cập đến có quan hệ với một dạng vật chất độc lập với thời gian và không gian. Phải chăng đó là bình diện tâm thức vì chỉ lớp vật chất này tồn tại ngoài không - thời gian?

       Con lắc Foucault 

       Sau đây là kết quả kỳ lạ của một thí nghiệm do nhà vật lý Leon Foucault (người Pháp) thực hiện vào năm 1851. Ông đã cho treo một con lắc (sợi dây dài buộc một vật nặng) vào mái vòm của ngôi đền Pantheon ở Paris. Khi thả cho con lắc chuyển động thì sợi dây quét qua lại trong không khí theo một mặt phẳng dường như hoàn toàn cố định so với tất cả các thiên thể. Nói cách khác, hành trang của con lắc được quyết định bởi toàn bộ vũ trụ. Vậy thì cái gì giữ vai trò liên kết tất cả vật chất có cấu trúc thành một chỉnh thể? Nội dung câu trả lời có lẽ nằm ở các thuộc tính đặc biệt của bình diện tâm thức.

        Nghịch lý EPR

       Nếu như con lắc Foucault đã chứng tỏ về tính toàn bộ của vũ trụ ở thang bậc vĩ mô, thì nghịch lý sau đây là bằng chứng về điều đó nhưng ở thang bậc vi mô. Vào năm 1930, ba nhà khoa học là Einstein, Podolsky và Rosen (tiếp theo sẽ gọi tắt là EPR) đã đề xuất một thí nghiệm tưởng tượng nhằm mục đích chỉ ra điểm yếu của cơ học lượng tử trong cách lý giải xác suất về các sự vật của thực tại. Giả sử một hạt hạ nguyên tử bị phân rã tự phát thành hai lượng tử ánh sáng (photon) là A và B. Do tính đối xứng, điều chắc chắn là nếu photon A bay theo một hướng xác định nào đó - ví dụ, hướng Đông - thì photon B sẽ bay theo hướng ngược lại - trong ví dụ này là hướng Tây.

       Nhưng cơ học lượng tử nói rằng trước khi được thu bởi dụng cụ đo thì photon A có biểu hiện sóng, nên lúc đó không thể có hướng xác định. Chỉ sau khi tương tác với máy dò thì photon A mới biến thành hạt và cho biết là nó bay về hướng Đông. Do hướng bay của photon A không xác định trước khi nó bị thu, nên làm thế nào mà photon B biết trước được hướng bay của A để định hướng quỹ đạo của mình theo hướng ngược lại khi bị thu ở cùng thời điểm với A, thậm chí khi hai photon ở cách xa nhau hàng tỷ năm ánh sáng? Điều này là hoàn toàn vô lý. Từ đó, ba tác giả EPR rút ra kết luận rằng, cơ học lượng tử đã chọn con đường sai lầm vì thực tại không thể được mô tả bằng xác suất.

       Nhưng Einstein và các cộng sự đã nhầm. Thí nghiệm trên đây đã được tiến hành nhiều lần và luôn cho kết quả đúng như cơ học lượng tử đã dự đoán. Hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm EPR được gọi là nghịch lý EPR.

       Nghịch lý EPR sẽ được sáng tỏ nếu chấp nhận ý tưởng rằng, hai photon A và B đều là bộ phận của cùng một chỉnh thể, chúng liên hệ thường xuyên với nhau thông qua một tương tác bí ẩn phi thời gian và phi không gian. Bởi vậy, mọi sự kiện có liên quan đến photon này đều được photon kia nhận biết ngay tức thời, dường như chúng không cần trao đổi thông tin với nhau. Như vậy, vũ trụ là một thể thống nhất. Cái gì đã tạo nên tính thống nhất đó? Có lẽ câu trả lời cần được tìm kiếm từ bình diện tâm thức.                    

        Tính bất toàn của một hệ thống

Năm 1900, nhà toán học David Hilbert (người Đức) đã đưa ra một thách đố coi tất cả các lĩnh vực toán học đều dựa trên những cơ sở logic vững chắc. Nhà toán học Kurt Godel (người Áo) đã vượt qua được thách đố đó, nhưng không theo hướng mà Hilbert đặt ra. Năm 1931, Godel đưa ra một định lý có lẽ là tuyệt vời và kỳ lạ nhất trong số các định lý toán học. Ông đã chứng tỏ được rằng, một hệ thống số học phi mâu thuẫn chắc chắn sẽ chứa các mệnh đề “không giải được”, tức là không thể bằng logic nói được chúng là đúng hay sai. Mặt khác, không thể chứng minh một hệ thống là phi mâu thuẫn chỉ dựa trên cơ sở các mệnh đề đầu tiên được chấp nhận không cần chứng minh (tiên đề) có trong hệ thống này. Cần phải “ở ngoài hệ thống” và phải đưa ra các tiên đề phụ bên ngoài hệ thống đó. Theo nghĩa này, một hệ thống tự bản thân nó chỉ có thể là không đầy đủ. Vì thế, định lý Godel cũng thường được gọi là định lý về tính không đầy đủ hay định lý “bất toàn”. Nó ngụ ý rằng, có tồn tại những giới hạn đối với sự suy luận logic, chí ít là trong toán học. Nội dung của nó cũng cảnh tỉnh về các “lỗ hổng” của khoa học nói chung. Định lý này được coi là một phát minh logic quan trọng nhất của thế kỷ 20.

Có thể mở rộng định lý “bất toàn” thành luật “bất toàn” với nội dung như sau: chức năng cơ bản của một đối tượng độc lập nào đó sẽ không thể được thực hiện với chính nó hoặc một phần của nó. Có vô số trường hợp thể hiện luật “bất toàn” trong thực tế. Ví dụ: dao sắc không gọt được chuôi, cần cẩu không nâng được nó, gương không soi được bản thân, một cơ cấu quan sát không thấy được mình v.v...

Chúng ta xét một sự kiện mà bề ngoài vi phạm luật “bất toàn”. Giả sử một người A đang quan sát một bông hoa B. Khi ở trạng thái tĩnh lặng thì A dễ dàng có cảm giác đang “nhận biết” (chứng kiến, quan sát) đồng thời cả bản thân và B. Nếu hệ thống các cơ thể là một đối tượng tri giác độc lập thì không thể chứng kiến đồng thời các sự vật xảy ra xung quanh và cả bản thân. Để phù hợp với luật “bất toàn” cần phải giả thiết có thêm một đối tượng thứ ba là C. Ở đây C chính là phần vật chất (năng lượng) của bình diện tâm thức bị giới hạn bởi hệ thống các cơ thể của A, có nghĩa C là yếu tố tâm thức hay “linh hồn” của A. Vì C có tác động như cái gương nên nó “soi” đồng thời cả A và các sự vật xảy ra xung quanh. Tất cả những hiệu ứng do C tạo ra lại được A cảm thụ qua tâm trí như thể tự nó thực hiện. Điều này ít nhiều tương tự với hiện tượng sau đây: khi đứng yên trên sân ga quan sát một đoàn tàu hoả chuyển bánh nhẹ nhàng thì một người có cảm giác như thể tự mình chuyển động, còn đoàn tàu đứng yên.

Niết Bàn

Trong số các tôn giáo lớn tồn tại đến ngày nay thì nền tảng của Phật giáo dựa trên sự tồn tại của một đối tượng siêu việt tựa như bình diện tâm thức. Như đã biết, chữ “Phật” (Buddha) là một danh từ theo Phạn ngữ của Ấn Độ, nó có nghĩa là người tỉnh thức hay giác ngộ, tức là người đã tỏ ngộ được “chân lý tối thượng”. Người đặt nền móng cho Phật giáo là Phật Thích Ca (623 - 543 trước CN). Trước khi thành Phật, Ngài là thái tử Sĩ Đạt Ta, con đức vua Tịnh Phạn thuộc dòng quý tộc Thích Ca, còn họ của Ngài là Cồ Đàm (Gotama).

Theo truyền thuyết, khi lên mười sáu tuổi, thái tử Sĩ Đạt Ta kết duyên với công chúa Da Du Đà La có cùng tuổi với Ngài. Trong ba năm sau ngày hôn lễ, thái tử Sĩ Đạt Ta hoàn toàn sống cuộc đời vương giả, không hay biết nỗi thống khổ của dân chúng bên ngoài cung điện. Tiếp đó, khi một vài lần được chứng kiến cảnh khổ não của con người, Ngài bắt đầu suy ngẫm về sự đời. Và đúng lúc nhận được tin vợ Ngài hạ sinh con trai, Ngài quyết định trốn khỏi nhà để đi tìm “chân lý”. Bấy giờ, thái tử Sĩ Đạt Ta mới mười chín tuổi.

Sau hơn mười năm học hỏi và chiêm nghiệm, đạo sĩ Cồ Đàm đã tìm được cho mình con đường Trung đạo để tu hành. Và Ngài đã đạt quả vị Phật khi mới ba mươi mốt tuổi.

Một trong những trụ cột của giáo lý đạo Phật là Tứ diệu đế hay bốn chân lý cao siêu do chính Đức Phật đã khám phá ra. Chữ “đế” có nghĩa là suy xét. Chân lý đầu tiên là Khổ đế, nó khẳng định rằng mọi sinh linh trong vũ trụ đều phải chịu đau khổ, đặc biệt thể hiện rõ nhất là ở những hoàn cảnh sinh, lão, bệnh, tử. Chân lý thứ hai - Tập đế - đề cập đến nguyên nhân của đau khổ là tham lam, giận dữ, mê muội (tham, sân, si). Đó là ba chất độc chính của đời sống và là cội rễ của mọi khổ ải. Diệt đế, chân lý thứ ba, chỉ dạy cách thức loại trừ đau khổ thông qua việc chấm dứt nguồn gốc gây ra nó, tức là phải tận diệt tham, sân, si. Và Chân lý thứ tư là Bát chính đạo, tức là việc tận diệt tham, sân, si bằng cách duy trì sự chân chính của một tổ hợp tám khía cạnh (hiểu biết, suy nghĩ, nói năng, hành động, sinh hoạt, cố gắng, chăm chú và định tâm). Mục tiêu cuối cùng của đạo Phật là giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Muốn thế, phải thành đạt đạo quả Phật để nhập vào cảnh giới “Niết Bàn” khi còn sống hoặc sau khi chết. Vậy Niết Bàn là gì? Đây là một trong những câu hỏi hóc búa nhất của Phật giáo.

Theo tư liệu Phật giáo, không thể có sự hiểu biết Niết Bàn bằng lý trí thuần tuý. Nhưng có thể chỉ ra một số đặc trưng nhất định của Niết Bàn. Trước hết, nó ở ngoài không gian và thời gian (phi không - thời gian). Nếu so sánh với hư không thì có thể nói Niết Bàn là “có”, còn hư không là “không”. Chính Đức Phật và các nhà truyền giáo đã mô tả Niết Bàn bằng những danh từ cùng tột như: tuyệt đối, duy nhất, vô tận, vĩnh cửu, tối thượng, chỗ nương tựa tối thượng, tuyệt đối thanh tịnh, không sinh, không khởi phát, không cấu tạo, bất biến, bất hoại, bất diệt...

Rõ ràng, nếu chúng ta so sánh đối tượng Niết Bàn của Phật giáo với bình diện tâm thức của vũ trụ thì có thể khẳng định là chúng đồng nhất với nhau.

Thượng Đế             

Thượng Đế là một đối tượng siêu việt khác đã được mọi thánh nhân nói đến trong các giáo lý tâm linh từ mấy ngàn năm nay. Họ đều khẳng định là chỉ duy nhất một Thượng Đế. Ngài là di sản chung của mọi tín đồ Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Đạo Sikh, Thiên chúa giáo v.v... Ngài là Đấng tối cao duy nhất của toàn thể chúng sinh.

Tất cả các thánh nhân đều coi Thượng Đế là Cha của muôn loài, bất cứ thứ gì mà chúng ta nhìn thấy đều do Ngài tạo ra. Thượng Đế là vĩnh viễn và trường cửu, Ngài đã có từ trước khi thế giới được tạo ra, sẽ hiện hữu ngày hôm nay và sẽ hiện hữu từ nay về sau. Ngài đã khai sinh ra toàn bộ vũ trụ. Ngài bất tử, vô sinh vô diệt, không tăng không giảm...

Khi đi sâu tìm hiểu một cách kỹ lưỡng các thuộc tính của Thượng Đế, chúng ta sẽ nhận thấy rằng đối tượng siêu việt này cũng có các khía cạnh tương tự như Niết Bàn trong Phật giáo. Và cả hai đối tượng đó đều có những đặc trưng trùng hợp một cách kỳ lạ với các thuộc tính của bình diện tâm thức đã được xét.

Đạo

“Đạo” là một khái niệm vô cùng bí ẩn có mặt trong tác phẩm Đạo Đức Kinh của Lão Tử, nhà tư tưởng khác thường của Trung Hoa cổ đại. Người ta coi Lão Tử là một thánh nhân và đồng thời là một triết gia lớn.

Có lẽ Lão Tử là người đầu tiên trong các triết gia Trung Quốc đã dùng chữ “Đạo” để chỉ cái Nguyên lý tuyệt đối đã có từ trước khi khai thiên lập địa, không sinh không diệt, không tăng không giảm. Đạo là một nguyên lý huyền diệu và không thể luận bàn. Cái nguyên lý tối cao tối đại ấy là nguồn gốc và bản thể của vạn vật, nó tồn tại thường hằng và bất biến. Vì Đạo là một đối tượng có tính tuyệt đối nên không thể dùng từ ngữ tương đối (nhị nguyên) để mô tả nó.

Một trong những đặc trưng hết sức đáng chú ý của Đạophi nhân tính (vô cảm và vô lý trí), thụ động và toàn năng. Vạn vật đều có nguồn gốc từ Đạo và chịu tác động toàn bộ bởi nó, nhưng nó chẳng làm gì cả và không thiên vị trước bất kỳ sự vật nào. Tính “thụ động” và “toàn năng” của Đạo đã được Lão Tử đề xuất áp dụng thành một nguyên lý phổ biến để giải quyết mọi việc trong xã hội và cuộc sống hàng ngày. Đó là nguyên lý vô vi:  làm như không làm, làm một cách toàn bộ và không thiên vị. Đa số các nhà nghiên cứu hiểu sai nguyên lý vô vi của Lão Tử vì họ không thấu hiểu Đạo ở những khía cạnh cơ bản nhất.

Xét một cách tổng thể sẽ thấy rằng, Đạo cũng là một đối tượng siêu việt như Niết Bàn, Thượng Đế hoặc bình diện tâm thức.

Một chi tiết trùng hợp kỳ lạ là trong Sách Phúc âm của Chúa Jesus do Jean ghi lại, có một đoạn như sau: “Trước khi sáng tạo vũ trụ đã có Đạo Thể. Đạo Thể ở cùng Thượng Đế và Đạo Thể là Thượng Đế. Ngay từ ban đầu Ngài đã hiện hữu cùng Thượng Đế. Tất cả đều được Ngài sáng tạo. Không gì hiện hữu mà không do Ngài...” (1:1-3). Rõ ràng, các từ “Đạo” của Lão Tử và “Đạo Thể” của Chúa Jesus có vai trò giống nhau. Ngoài ra, Đức Chúa đã đồng nhất Đạo Thể với Thượng Đế. Nói cách khác, “Thượng Đế” chỉ là tên gọi nhân cách hoá của đối tượng Đạo Thể.      

 Bí ẩn tối thượng

       Nếu chúng ta xem xét đồng thời các đối tượng siêu việt là Niết Bàn, Thượng Đế và Đạo trong một tổng thể thì sẽ phát hiện ra rằng, các thuộc tính của nó đều có mặt ở bình diện tâm thức.

       Điều đặc biệt đáng chú ý là trong khi giới khoa học đương đại còn chưa vươn tới khái niệm về bình diện tâm thức, thì ngay từ thời xa xưa rất nhiều đại sư và thánh nhân đã trực tiếp thể nghiệm một số đặc tính của đối tượng siêu việt này. Ví dụ, một đạo sĩ sau khi chứng ngộ vô ngã (thành Phật) đã thốt lên: “Ta chính là Thượng Đế. Ta phi thân thể, phi gắn bó và phi giới tính. Ta tuyệt đối tĩnh lặng, vô hạn, toàn bộ và cổ đại nhất. Ta là phi tác nhân, không thay đổi và nhận biết thuần khiết. Ta là thiên thần vĩnh cửu...”.

       Để chỉ đối tượng bí ẩn tối thượng nói trên một cách phi nhân tính, trong một số kinh sách người ta đã đưa ra các tên gọi khác như cõi thiêng liêng, thực tại tĩnh lặng, cái đó... Nó được đặc trưng bởi những thuộc tính nổi bật sau đây:

       - là Đối tượng hay Nguyên lý tuyệt đối duy nhất;

       - có trước vạn vật;

- nguồn gốc của vạn vật;

- tồn tại vĩnh hằng;

- phi hành động, nhưng tạo ra mọi thứ;

- hiện hữu trong tất cả mọi vật hữu sinh và vô sinh;

- phi cảm xúc và phi lý trí;

- vô hạn và bất biến;

- phi thời gian và phi không gian;

- trong suốt và trống rỗng;

- im lặng và bất động tuyệt đối;

- không thể biết được nguồn gốc của nó v.v...

Bình diện tâm thức có thể được biểu trưng qua Niết Bàn, Thượng Đế, Đạo hay bất kỳ một danh xưng nào khác và để phát hiện ra nó chỉ có con đường duy nhất là mỗi người phải tự “thâm nhập” vào tầng năng lượng tinh tế nhất bên trong chính mình. Đây là bí quyết tối thượng mà các đạo sư đã cố sức truyền dạy từ thế hệ này qua thế hệ khác.

 

VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần thứ bảy
Trong phần này đề cập đến các sinh thể dạng năng lượng (vô hình đối với mắt người bình thường). Đây là một trong những vấn đề mà khoa học hiện đại đang hoàn toàn bó tay vì chưa có một cơ sở lý thuyết nào mà dựa vào đó cho phép tồn tại các sinh thể không nhìn thấy.

 

Phần thứ bảy

CÁC SINH THỂ

NĂNG LƯỢNG

 Từ hàng ngàn năm nay, một phần nhân loại đã tin tưởng sâu sắc vào sự tồn tại các sinh thể không nhìn thấy (có nhiều tên gọi ứng với các dạng khác nhau: sinh thể vô hình, vong linh, ma, quỷ, thần, tiên, sinh thể sóng...). Thậm chí, một số nhà khoa học nổi tiếng cũng nghiêng về giả thuyết hiện hữu các sinh thể mà giác quan của người bình thường và máy móc tinh vi nhất hiện nay chưa thể phát hiện ra. Và cũng chưa có một lý thuyết nào đề xuất cơ sở phù hợp mà dựa vào đó có thể lý giải một cách logic vô số hiện tượng đã được ghi nhận. Thuyết vũ trụ đa chiều thực tại được đưa ra trong cuốn sách này cho phép khả năng phát sinh sự sống ở bất kỳ chiều năng lượng nào. Tiếp theo sẽ gọi các sinh thể giả định đó là sinh thể năng lượng.

        Sự sống là gì?  

       Trong phần 3 chúng ta đã bàn luận về sự sống vật lý của thế giới hữu hình. Như đã biết, đặc tính cơ bản của một sinh vật là khả năng trao đổi chất, sinh trưởng, phát triển, sinh sản và cảm ứng. Tế bào là cấu trúc cơ sở của mọi sinh vật, ngoại trừ virus sống ký sinh trong tế bào một sinh vật khác.

       Rất có thể là sự sống vật lý và sự sống năng lượng khác nhau một cách căn bản. Khoa học cho đến nay hoàn toàn chưa đề cập tới sự sống tại các chiều năng lượng. Vì vậy, cần có một cách nhìn khái quát về sự sống cho tất cả các chiều thực tại của vũ trụ.

       Nói một cách ngắn gọn, sự sống của một đối tượng nào đó là quá trình mà đối tượng tự tồn tại và tự trao đổi thông tin với môi trường bên ngoài. Một đối tượng như vậy sẽ được gọi là thực thể sống. Sự trao đổi thông tin có thể gồm thu nhận, lưu giữ, xử lý, biến đổi và truyền phát tín hiệu (sóng). Rõ ràng, các vật vô tri vô giác không có khả năng tự trao đổi thông tin, tức là chúng không phải là thực thể sống. Định nghĩa về sự sống trên đây cũng phù hợp với mọi sinh vật vì ngày càng có nhiều dẫn chứng về khả năng giao tiếp của chúng với nhau và với môi trường xung quanh, kể cả các cá thể thực vật. 

       Bất kỳ một thực thể sống nào cũng phải trải qua hai thời điểm giới hạn: sinhtử. Điều đáng chú ý là sự tử chỉ là hệ quả tất yếu của sự sinh. Nếu xét ở phạm vi đa chiều thực tại thì sự sinh hoặc sự tử chỉ có nghĩa tương đối. Theo quan niệm luân hồi, khi một vong linh tái sinh vào kiếp sống mới thì thời điểm thụ thai (sinh) tại bình diện vật lý ứng với thời điểm chấm dứt hoạt động sống (tử) tại cõi Trung giới (cõi Âm). Do đó, có thể gọi một thực thể sống là sinh thể (dạng vật lý hay dạng năng lượng).

       Như vậy, sự hiện hữu các sinh thể ở một bình diện vật chất nào đó đồng nghĩa với việc tồn tại các thực thể có khả năng tự trao đổi thông tin. Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt một sinh thể với một đối tượng vô tri vô giác. Về mặt lý thuyết, hoàn toàn có cơ sở để giả định về khả năng xuất hiện các sinh thể ở những chiều thực tại phi vật lý.

       Tồn tại sự sống sau cái chết?

       Một trong những vấn đề đầu tiên có liên quan đến các sinh thể năng lượng là nền tảng vật chất và chứng cứ về sự tồn tại của chúng, trước hết là sự sống sau cái chết của con người. Nói cụ thể hơn, nếu một người từ trần thì liệu một phần còn lại của hệ thống các cơ thể năng lượng (vong linh) của người đó có tiếp tục sự sống? Nếu có thì khả năng cảm xúc và trí tuệ sẽ ở mức độ nào? Dựa vào đâu để giải thích hiện tượng đó? Các chứng cứ có sức thuyết phục? Cách giao tiếp với các sinh thể năng lượng? v.v...

       Để trả lời những câu hỏi trên đây và hàng loạt câu hỏi khác tương tự, chúng ta cần phải duy trì một cách nhìn toàn diện và khách quan đối với vấn đề đặt ra. Khả năng tồn tại các sinh thể năng lượng sẽ được xem xét từ những hiện tượng gần gũi nhất đối với đời sống con người.

       Hiện tượng luân hồi: Theo Phật giáo và quan niệm dân gian, sự sống của một người không chấm dứt hoàn toàn sau cái chết của người đó. Vẫn tiếp tục tồn tại một thực thể không nhìn thấy (vong linh) với khả năng ý thức, tình cảm và tư duy tựa như một bản sao tâm trí của người đã khuất. Và vong linh đó sau một khoảng thời gian nhất định có thể lại thâm nhập vào một bào thai để tiếp tục cuộc sống mới của con người bằng xương bằng thịt. Quá trình lặp đi lặp lại như vậy được gọi là hiện tượng luân hồi, còn sự đầu thai trở lại của vong linh - hiện tượng tái sinh. Từ hàng ngàn năm nay, các nhà thông thái trên thế giới đã đưa ra rất nhiều ý kiến phản bác hoặc ủng hộ lẫn nhau.

       Xung quanh hiện tượng luân hồi hay tái sinh có thể có hai dạng ý kiến chủ yếu: phủ định hoặc có thể chấp nhận. Những người phủ định thường cho rằng, toàn bộ con người đều tập trung ở thân vật lý (thể xác) - mọi thứ có liên quan như cảm xúc, ý thức, tư duy... đều có nguồn gốc từ nó. Bởi vậy, khi thân vật lý chấm dứt hoạt động (chết) thì chẳng còn gì có thể được coi là sự sống tiếp diễn.

       Dù vô tình hay hữu ý, những người theo quan điểm phủ định hiện tượng luân hồi và tái sinh thừa nhận các điểm sau đây làm tiền đề:

       – Cơ thể con người được cấu tạo chỉ từ dạng vật chất hữu hình và đó chính là thân vật lý (thể xác);

       – Cảm xúc, ý thức, tư duy... của một cá nhân phát sinh từ thân vật lý của người đó;

       – Con người không có các giác quan đặc biệt;

       – Không có chứng cứ xác thực về hiện tượng tái sinh.     

       Rõ ràng, nếu chỉ thay đổi thái độ đối với ít nhất một trong bốn điểm nêu trên thì tình hình có thể theo chiều hướng khác căn bản. Như chúng ta đều biết, phương pháp tư duy khoa học không cho phép phủ định hay thừa nhận điều gì đó một cách vô căn cứ. Bởi vậy, dạng ý kiến thứ nhất về hiện tượng luân hồi không đủ sức thuyết phục.

       Với dạng ý kiến thứ hai sẽ có nhiều cơ hội bàn luận hơn. Các phương tiện thông tin đại chúng (chủ yếu là sách, báo viết) ngày càng đưa ra danh tính của nhiều người có khả năng “ngoại cảm” và họ chấp nhận các thực nghiệm khoa học để kiểm chứng. Tại Việt Nam, trong thời gian hơn chục năm gần đây đã xuất hiện những người có khả năng nhìn thấy và trò chuyện với các vong linh trong quá trình tìm kiếm hài cốt người chết.

       Khi nói về sự chết của con người, nhà tiên tri nổi tiếng thế giới người Bungari là bà Vanga (1911-1996), bị mù lúc 14 tuổi, đã cho biết đôi điều đáng chú ý sau đây:

       – Bà đã nhìn thấy hình ảnh của các vong linh và nghe thấy tiếng nói của họ;

       – Bà đã chứng kiến các vong linh bày tỏ cảm nghĩ của mình cũng như trả lời các câu hỏi được đưa ra;

       – Bà tin là sự chết của một người chỉ là chấm dứt tồn tại thể xác, còn nhân cách người đó vẫn tiếp tục sự sống.

       Bà Brennan cũng đã ghi lại một vài ý tưởng linh cảm đáng chú ý về sự chết như sau:

       “...Chết không phải cái mà chúng ta thường hiểu, mà là sự chuyển tiếp từ trạng thái ý thức này sang trạng thái ý thức khác. Khi ta quên con người thực của mình thì lúc đó ta đã chết... Vì thế, mặc dù ta vốn sợ chết nhưng cái duy nhất chết đi là cái chết”.

       Theo thuyết huyền bí, đời sống cõi Trần chỉ là một phần nhỏ của chu kỳ kiếp sống. Chu kỳ này được biểu hiện bằng một vòng tròn sự sống và chết là những nhịp cầu chuyển tiếp giữa cõi Âm và cõi Dương, giữa thế giới hữu hình và thế giới vô hình. Sự chết không làm thay đổi tâm trí con người quá cố:  con người khi sống thế nào thì sau khi rời bỏ thể xác vẫn thế ấy. Tri thức, tính tình, đức hạnh và mọi sự xấu tốt của người đó vẫn y như lúc còn sống. Khi qua cõi Âm, vong linh có thể rơi vào một trong bảy cảnh giới (mức độ rung động) với một khoảng thời gian lâu dài hay ngắn ngủi tuỳ thuộc vào tính cách và dục vọng của con người khi còn sống - ở đó cảnh giới thứ bảy rất nặng trọc và khó chịu, còn cảnh giới thứ nhất thanh nhẹ và an bình.

       Các nhà nghiên cứu hiện tượng luân hồi đã thu thập được hàng chục ngàn trường hợp có liên quan đến sự tái sinh của con người, trong đó có những sự kiện đã được kiểm chứng một cách chính thức. Để minh hoạ, chúng ta sẽ xem xét dưới đây một trường hợp tái sinh nổi tiếng xảy ra tại Ấn Độ về người đàn bà tên là Shanti Devi, sinh năm 1926 tại Delhi.

       Khoảng năm lên bốn tuổi, bé Shanti Devi bắt đầu nói với bố mẹ những câu rất kỳ lạ. Chẳng hạn, bé khẳng định ngôi nhà thật của mình nằm ở thành phố Mathura, cách Delhi khoảng 150 kilômét. Năm lên sáu tuổi, bé Shanti Devi đã trốn khỏi nhà và quyết định đi bộ đến thành phố Mathura tìm kiếm “người thân” nhưng không thực hiện được. Bé Shanti Devi nhớ lại được rằng, trước đây cô tên là Lugdi Devi, đã có chồng tên là Kedar Nath và một con nhưng không thể chăm sóc nó vì sau khi sinh được mười ngày thì cô chết. Cô bé đã kể rất nhiều điều cho những người xung quanh. Tiếng đồn vang xa, một hôm đích thân Gandhi đã đến thăm Shanti Devi. Nhà lãnh đạo Ấn Độ rất quan tâm đến trường hợp này. Ngày 15-11-1935, Gandhi đã gửi Shanti Devi đến thành phố Mathura cùng với cha mẹ, nhiều luật sư, nhà báo, doanh nhân... nhằm mục đích kiểm tra tính chân thực về những thông tin do cô bé kể lại. Tại sân ga Mathura, bé Shanti Devi đã làm cho mọi người sửng sốt vì ngay lập tức đã nhận ra các thành viên của “gia đình” mình và sau đó tỏ rõ nhiều tình tiết xúc động đối với “chồng” và “con” cùng tuổi.

       Một uỷ ban điều tra gồm những người có học thức thuộc tầng lớp trên trong xã hội đã làm việc nghiêm túc, tiến hành rất nhiều cuộc xác minh, tập hợp và đối chiếu các thông tin và sự việc. Sau một quá trình khảo sát tỷ mỷ và có trách nhiệm, Uỷ ban này đã đi đến kết luận rằng:  Shanti Devi chính là sự đầu thai trở lại của Lugdi Devi.

       Trên đây chỉ là một trong vô số các trường hợp tái sinh đã được ghi nhận và xác minh cẩn thận. Nếu toàn bộ con người chỉ tập trung ở thể xác thì không thể xảy ra những trường hợp tương tự, bởi vì sự chết của người này không có mối quan hệ nhân cách liên tục với sự sinh của người khác. Như vậy, hiện tượng luân hồi hay tái sinh đã được xác nhận trong thực tế.

       Tinh thần phát sinh từ đâu?Câu hỏi này đề cập đến một vấn đề quan trọng nhất có liên quan đến khả năng tồn tại sự sống sau cái chết của một cá nhân. Từ“tinh thần” được dùng để chỉ tổng thể những cảm xúc, ý nghĩ, tâm trạng, tưởng tượng, ý chí... của con người.

       Rõ ràng, nếu toàn bộ vũ trụ chỉ gồm một chiều thực tại vật lý thì câu trả lời sẽ rất đơn giản:  tinh thần là do vật chất hữu hình sinh ra, cho nên khi thân vật lý của một người chấm dứt hoạt động (chết) thì tinh thần của người đó cũng sẽ không còn nữa. Nói cách khác, chết là hết. Kết luận này hoàn toàn đúng đắn nếu vũ trụ không bao gồm các chiều thực tại năng lượng (không nhìn thấy).

       Nhưng theo thuyết vũ trụ đa chiều thực tại đã xét và các quan sát thực tế thì sự việc diễn ra không đúng như vậy. Như trên đã nói rõ, mọi biểu hiện tinh thần của con người đều có nguồn gốc từ các cơ thể năng lượng, còn bộ não của thân vật lý chỉ đóng vai trò tiếp nhận, xử lý và phản ánh lại ở thế giới hữu hình. Những người thực hành xuất thần thành thạo đã đi đến kết luận khá lý thú:  sau khi tách khỏi thân vật lý, cái “tôi” sẽ hiện hữu trong một hệ thống các cơ thể năng lượng cùng với cảm xúc, tư duy, trí nhớ... và tiếp diễn sự hoạt động nhất định của năm giác quan mà nhạy cảm hơn là thị giác, thính giác. Trong thời gian xuất thần, cái “tôi” năng lượng có thể dễ dàng quan sát thân vật lý đang nằm bất động trên giường. Điều đáng lưu ý là mỗi cá nhân có thể tự tập luyện theo một quy trình có sẵn để kiểm nghiệm những gì mà người khác đã được trực tiếp chứng kiến.

       Những người có khả năng thị giác đặc biệt (thị giác cao cấp, thần nhãn) còn đưa ra sự mô tả cụ thể hơn. Họ cho biết một số chi tiết sau đây:

       – Các cảm xúc bình thường đều bắt nguồn từ thể vía (cơ thể năng lượng thứ hai) và được trung chuyển vào não qua thể phách (cơ thể năng lượng thứ nhất);

       – Mỗi ý nghĩ mới đều phát sinh từ thể trí (cơ thể năng lượng thứ ba), tạo thành một hình thể năng lượng tương ứng (hình tư tưởng) tại thể vía, rồi mới kích hoạt não tiếp nhận;

       – Tiềm thức, vô thức, mơ mộng, tưởng tượng, ý chí... được hình thành tại thể tâm lý (cơ thể năng lượng thứ tư);

       – Khả năng trực giác, những dấu ấn về tiền kiếp... được bao hàm trong các cơ thể năng lượng thứ năm, thứ sáu v.v...

       Trên cơ sở các tư liệu thực tế và nhận diện những chức năng của hệ thống các cơ thể năng lượng, có thể rút ra kết luận sau đây:  nhân cách của một người vẫn tiếp tục sống sau cái chết thể xác của người đó.  

       Diễn biến của sự chết:  Chết là sự kiện tất yếu đối với bất kỳ ai khi người đó được sinh ra. Rõ ràng, sự sinh và sự chết là hai cực của một tiến trình sống. Với quan niệm “chết là hết” thì diễn biến cái chết của thể xác được hướng vào quá trình chấm dứt hoạt động của những cơ quan cốt yếu như tim, phổi và bộ não. Nhưng cho đến nay vẫn thiếu vắng một phương thức tin cậy để xác định sự chết vật lý, vì vậy đã xảy ra nhiều trường hợp đáng tiếc khi mai táng con người còn khả năng hồi phục sự sống của thể xác.

       Dưới góc độ con người là một sinh thể đa chiều, diễn biến của sự chết thể xác sẽ trở nên phức tạp và bí ẩn hơn nhiều vì có liên quan đến hệ thống các cơ thể năng lượng. Vấn đề này hoàn toàn vắng mặt trong khoa học đương đại. Trái lại, các nhà tâm linh từ lâu đã đưa ra sự mô tả khá chi tiết về thời điểm mà thể xác của một cá nhân bắt đầu chấm dứt hoạt động và phần còn lại của hệ thống các cơ thể năng lượng người đó trở thành một thực thể năng lượng độc lập để chuyển sang trạng thái ý thức mới ở một chiều thực tại khác. Sự chết tự nhiên của con người thường diễn ra theo một trình tự nhất định, phù hợp với tính đa chiều của vũ trụ. Nếu ai đó có thái độ “chết là hết” thì chẳng cần đến sự luận bàn phức tạp.

       Theo tư liệu tâm linh, vào thời điểm con người rời bỏ bình diện vật lý sẽ có một tia sáng đặc biệt đi ra khỏi luân xa 7 (luân xa đỉnh đầu). Trải nghiệm về sự kiện này thường được mô tả như là đi theo con đường hầm mịt mù giữa cuộc đời trần thế và cõi chết. Cái “tôi” năng lượng sẽ thấy một đường hầm dài tối tăm với ánh sáng chói chang ở đầu cuối, nơi tiếp giáp với một chiều thực tại năng lượng. Thực chất, đây là hiện tượng mà cái “tôi” năng lượng chứng kiến khi đi qua lớp năng lượng phân cách giữa bình diện vật lý và bình diện phi vật lý kề cận (NF1). Chúng ta biết rất ít về lĩnh vực bí ẩn này mặc dù có thể tiến hành nhiều cuộc khảo sát như vậy.  

       Những người có thị giác đặc biệt đã ghi nhận rằng, thân vật lý và thể phách (cơ thể năng lượng thứ nhất) được liên nối mật thiết với nhau bằng một sợi dây năng lượng có màu chói sáng và nhỏ như sợi chỉ (trong thuyết huyền bí nó được gọi là “sợi chỉ bạc”). Trong lúc con người hấp hối thì “sợi chỉ bạc” vẫn nguyên vẹn. Nhưng vào thời điểm con người từ trần thì nó đứt hẳn, thể phách tách rời khỏi thể xác và thường là không thể phục hồi lại được. Đây là lúc người chết hôn mê, vô ý thức hoàn toàn để cái “tôi” năng lượng rút khỏi thể phách, còn thể vía và các thể năng lượng khác tinh tế hơn bắt đầu lo bảo vệ sự sống của chúng bằng cách sắp xếp lại từng lớp vật chất: lớp nặng trọc bọc ngoài, lớp thanh nhẹ ở trong. Sự thu xếp này ấn định một mức rung động tương ứng của cõi Âm mà vong linh sẽ rơi vào. Bắt đầu từ thời điểm đó, thể xác sẽ mất vai trò tổng thể dù tất cả các tế bào của nó vẫn cố duy trì sự sống và tồn tại một cách riêng biệt. Thể phách cũng mất liên hệ với các cơ thể năng lượng khác và bị tan rã sau một thời gian nhất định. Nói cách khác, sự chết diễn biến như một quá trình trong trường năng lượng. Quá trình chết phụ thuộc vào mức độ tinh khiết của các cơ thể năng lượng cá nhân.

       Như trong phần 4 đã nói đến, các cơ thể năng lượng thứ hai (thể vía) và thứ ba (thể trí) có quan hệ mật thiết với thân vật lý. Bởi vậy, sau khi cơ thể năng lượng thứ nhất (thể phách) và thân vật lý chấm dứt sự liên nối với nhau (“sợi chỉ bạc” bị đứt hẳn) thì thể vía và thể trí cùng các luân xa tương ứng bắt đầu bị tan rã. Từ thể xác thoát ra những đám mây năng lượng màu xà cừ hay màu sữa. Đó là phần năng lượng đã được dùng để tạo khuôn cho thân vật lý. Toàn bộ trường năng lượng của người quá cố lúc này bị xáo trộn mạnh mẽ, tất cả các luân xa được thanh lọc và khai mở. Cái “tôi” năng lượng rời bỏ thể xác theo một chiều khác của không gian. Ba cơ thể năng lượng đầu tiên và các luân xa chính tương ứng bị phân huỷ.  Các luân xa khác cũng được khai mở thành những lỗ rộng liên thông với các chiều khác của không gian. Cái “tôi” vô hình được tắm gội bởi một khối năng lượng tuôn chảy như suối dọc theo dòng năng lượng thẳng đứng chủ yếu.

       Khi mối liên hệ giữa thể xác và thể phách bị cắt rời thì xảy ra quá trình phân rã trường năng lượng người chết. Các ấn tượng cuộc đời tạo nên những tắc nghẽn trong trường năng lượng của mỗi cá nhân, làm cho con người quên lãng cái “tôi” thực của mình. Việc giải toả những tắc nghẽn đó sẽ gây cho cái “tôi” người chết trải nghiệm các sự kiện đáng nhớ đã qua theo một chiều không - thời gian co nén. Con người vẫn giữ lại cái “tôi” của mình sau khi từ giã bình diện vật lý. Trải qua một thời gian hôn mê nhất định, dù cái “tôi” năng lượng chỉ là tổ hợp các hạt ánh sáng, nhưng nó bắt đầu cảm nhận được bản thân một cách rõ rệt ở một chiều thực tại phi vật lý. 

       Đời sống của các vong linh: Có rất ít các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này dù đây là một khía cạnh rất hệ trọng đối với nhân loại. Không thể không nói đến đời sống của các vong linh nếu sự sống con người vẫn tiếp diễn sau sự chết của thân vật lý. Thuật ngữ “vong linh” được dùng để chỉ cái “tôi” năng lượng của người quá cố. Sự mô tả về đời sống của các vong linh sẽ được xem xét một cách khái quát trên cơ sở thuyết vũ trụ đa chiều thực tại và các nguồn tư liệu tâm linh đã được công bố, đặc biệt là vào những năm gần đây.

       Như trên đã chỉ ra, sau khi thể xác dứt bỏ khỏi thể phách thì hệ thống các cơ thể năng lượng của người quá cố bắt đầu có sự tái tạo lại. Tất cả những thành phần năng lượng làm khuôn dạng cho thân vật lý đều bị phân huỷ. Nhiều thông tin về cuộc sống đã qua của người chết vẫn được lưu giữ lâu dài trong những cái được gọi là “phần tử trường tồn” của thể xác, thể vía và thể trí tương ứng. Chất liệu “nhìn thấy” đối với các vong linh được tạo thành từ vật chất của bình diện NF1 (cõi Âm hay chiều thực tại kề cận bình diện vật lý). Những người có thị giác đặc biệt thường “nhìn thấy” các vong linh với hình dạng người quá cố vào thời điểm từ trần. Ví dụ, hình dạng của vong linh người già là ông già hoặc bà già, vong linh của người bị chặt đầu sẽ được nhìn thấy không đầu, vong linh của một thanh niên đã chết cách nay mấy chục năm sẽ hiện ra tựa như ảnh chụp trước thời gian chết v.v...

       Theo thuyết huyền bí, cõi Âm được phân chia thành 7 lớp năng lượng với mức tần số rung động khác biệt nhau. Mỗi lớp được gọi là một “cảnh giới”. Người ta gán số thứ tự cho các cảnh giới theo mức tần số rung động giảm dần của chúng - cảnh giới với mức tần số rung động cao nhất được gán số 1, tiếp theo là cảnh giới thứ 2... và cuối cùng là cảnh giới thứ 7 ứng với mức tần số rung động thấp nhất. Nhiều tôn giáo coi cảnh giới thứ 7 là tầng “địa ngục”. Các vong linh bị rơi vào cảnh giới này sẽ chịu nhiều khổ não nhất vì ở đây tập trung vô số rung động đa tạp là khát vọng về tham, sân, si mà thực tế sẽ không bao giờ được thoả mãn trực tiếp do họ không còn thân vật lý. Các vong linh ở tại những cảnh giới với rung động cao hơn cảm thấy sự thanh nhẹ và an bình. Tâm đức và lý trí của người quá cố khi ở cõi Trần có vai trò quyết định cảnh giới nào của cõi Âm mà vong linh đó sẽ tồn tại bước đầu.

       Theo William Buhlman, các vong linh vẫn có 5 giác quan như chúng ta, trong đó thị giác và thính giác được sử dụng thường xuyên hơn. Điều đặc biệt là các vong linh còn có khả năng đọc được ý nghĩ và nhận biết được cảm xúc của nhau mà không cần ngôn ngữ; các vong linh có thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác bằng cách đi, chạy, bay hoặc ước muốn (cách sau cùng là nhanh nhất). Các vong linh cũng có thể truyền trao tình cảm yêu thương cho người sống.

       Theo thuyết huyền bí, sự sống của các vong linh có thể được chuyển đổi vào cảnh giới cao hơn nhờ việc dứt bỏ dần những tư tưởng và xúc cảm dục vọng về tham, sân, si. Đây chính là quá trình tinh khiết hoá của các vong linh để chuẩn bị cho một chu trình tái sinh mới.  

       Một số nguồn tư liệu cho thấy rằng, các vong linh dường như cũng được tổ chức một cách có hệ thống từ cao đến thấp. Việc tìm hiểu các mối quan hệ đa dạng và những tác động phức tạp lẫn nhau giữa cõi Âm và thế giới chúng ta sẽ có vai trò cực kỳ quan trọng đối với cả hai phía, đặc biệt là trong điều kiện nền khoa học kỹ thuật đang phát triển mạnh mẽ và đời sống vật chất của con người tăng lên không ngừng.

       Nhiều khía cạnh liên quan đến thế giới các vong linh vẫn còn chưa được giải đáp. Sau đây là một số ví dụ:

       – Có tồn tại các cấp chính quyền và chính phủ thuộc cõi Âm hay không?

       – Sự ảnh hưởng qua lại giữa cõi Âm và bình diện vật lý?

       – Các vong linh sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình? 

       – Việc cư trú và quan hệ của các vong linh như thế nào?

       – Vì sao các vong linh rất coi trọng hài cốt của mình?

       – Sinh hoạt hàng ngày của các vong linh?

       – Các gia đình và mối quan hệ thân thuộc kiểu vật lý có còn tiếp tục sau khi chết?

       – Các vong linh có sử dụng thức ăn phi vật lý và thực sự có cần thiết hay không?

       – Có tồn tại giới tính của các vong linh theo kiểu vật lý?

       – Trẻ con tại cõi Âm trưởng thành như thế nào? v.v...

       Rõ ràng, không thể có nhiều thông tin về đời sống của những cư dân thuộc cõi Âm khi mà hầu hết các nhà nghiên cứu tâm linh chưa có phương sách đúng đắn trong việc tìm hiểu và hệ thống hoá những gì có liên quan đến sự sống tiếp diễn sau cái chết của con người. Có thể hy vọng trong một tương lai gần, các nhà khoa học sẽ thừa nhận và áp dụng rộng rãi những cách truyền thống giao tiếp với cõi Âm để khảo sát toàn diện sự hoạt động sống của những người anh em vô hình trong một chiều thực tại kề cận thế giới vật lý của chúng ta.  

        Các sinh thể có hình bóng

       Các vong linh là sinh thể năng lượng thuộc loại có hình bóng. Những người với thị giác đặc biệt có thể nhìn thấy chúng một cách mờ ảo. Chúng ta chưa thể biết chính xác “hình bóng” như vậy là thực có hay chỉ là sự hiển thị tín hiệu tựa như trên máy thu hình. Dĩ nhiên, hình bóng của sinh thể năng lượng và hình dạng vật lý của con người chắc chắn khác nhau một cách căn bản.

       Quả là vô cùng khó khăn khi bàn về các sinh thể năng lượng nói chung. Không thể không dựa vào các tư liệu đã biết do những người có khả năng đặc biệt thuật lại. Trong số đó phải kể đến nhà tiên tri Vanga, một người đàn bà mù hoàn toàn nhưng đã “nhìn thấy” hình bóng của các sinh thể năng lượng xung quanh mình.

       Vào một ngày hè năm 1979, khi cảm thấy tâm trạng hứng khởi tuyệt vời, bà Vanga cho biết những chi tiết sau đây:

       “Tôi nhìn thấy họ gần một năm nay. Họ trong suốt. Trông họ như bóng người trong nước. Tóc họ mềm như lông vũ và bao quanh đầu họ thành một cái gì đó tựa như vầng hào quang. Đằng sau lưng có cái gì như đôi cánh. Thường khi về nhà tôi rất hay bắt gặp họ trong phòng mình. Khi chưa vào đến ngưỡng cửa tôi đã nói chuyện với họ, tôi nghe thấy những âm thanh trải dài, chậm rãi và du dương như thể một dàn đồng ca đang hát thánh thi.

       Họ nói rằng, họ bay tới từ hành tinh Vamphim - hành tinh thứ ba gần Trái Đất. Đôi khi một trong bọn họ nắm lấy tay tôi dẫn tới hành tinh của mình...

       Họ làm việc rất nhiều, mạch lạc và có tổ chức. Họ nói rằng có rất ít người để có thể qua đó họ thực hiện những mối liên lạc trực tiếp với Trái Đất...     

       Có lần họ đã dựng trên Trái Đất hai bức tượng hình như là về hai đồng bào đặc biệt xuất sắc của họ. Tôi biết chính xác nơi đó nhưng không thể chỉ cho mọi người. Khi dựng bức tượng, một trong bọn họ nói rằng, có lẽ nên quay bức tượng chếch đi một chút để con người không thể nhìn thấy. Kẻ khác trả lời là đừng lo, vì tất cả người Trái Đất đều mù cả”.      

       Có thể dẫn ra nhiều ví dụ thực tế đã biết về khả năng tồn tại các sinh thể năng lượng với nhiều dạng hình bóng khác nhau. Điều đó có thể chấp nhận được nếu đứng trên quan điềm về tính đa chiều thực tại của vũ trụ. 

       Các sinh thể sóng

       Sinh thể sóng là loại sinh thể năng lượng phi hình dạng dưới góc độ giác quan đặc biệt của con người. Mỗi sinh thể sóng thực chất là một khối vật chất - sóng có tư duy. Khả năng tồn tại các sinh thể sóng phù hợp với thuyết vũ trụ đa chiều thực tại. Con người có thể nhận biết được sinh thể sóng thông qua sự đối thoại trực cảm (tiếp nhận thông tin trên cơ sở các câu hỏi và câu trả lời ở dạng ý nghĩ). Hiện thời, chỉ các nhà ngoại cảm mới có khả năng giao tiếp được với sinh thể sóng. Sau đây là một số nội dung đáng chú ý đã được ghi nhận liên quan đến các sinh thể sóng.

       Qua nhà ngoại cảm Jack Pursel- Các sinh thể sóng thuộc “tầng trời cao” tự mô tả mình như một hiện tượng bành trướng và thu hẹp liên tục về năng lượng (ý thức). Mỗi cá thể được biểu hiện như một điểm loé sáng hay một tia loé về ý thức. Sinh thể sóng “hoạt động” bằng việc bành trướng ý thức của mình, thu thập thông tin, nâng cao khả năng nhận biết xuyên suốt, tích luỹ các dao động và biến đổi chúng thành năng lượng cần thiết. Giới hạn của mỗi cá thể hoàn toàn bất định (tại mỗi thời điểm có mặt ở khắp nơi và đồng thời chẳng xác định ở đâu cả).

       Các sinh thể sóng luôn sáng tạo ra tư tưởng và truyền phát vào những chiều thực tại khác theo mọi phương hướng. Với những chiều thực tại dày đặc hơn, đặc biệt là chiều vật lý, tư tưởng được nén lại để thích ứng với sự rung động giác quan của các đối tượng tiếp nhận.

       Các sinh thể sóng cùng loại tương tác với nhau trong im lặng thông qua truyền trao tư tưởng trực cảm.

       Qua nhà ngoại cảm Dawn Hill- Một dạng sinh thể sóng khác cho biết rằng, tần số cộng hưởng mà nó sử dụng không thể phù hợp với các giác quan vật lý của con người. Để người Trái Đất có thể bắt được tần số như vậy, cần có 15-20 mắt xích biến đổi. Tính tương đối của thời gian không hiện hữu ở nhiều cõi thực tại khác. Tất cả đều là “hiện tại”.

       Qua nhà ngoại cảm Ruth Norman- Một sinh thể sóng cũng nói đến sự khác biệt giữa băng tần số của nó và băng tần số của các giác quan vật lý. Vì vậy, cần phải sử dụng một công cụ đặc biệt cho mục đích giao tiếp giữa các cõi khác nhau. Công cụ như vậy chính là nhà ngoại cảm. Họ có khả năng bắt được tần số rất lớn. 

       Qua nhà ngoại cảm Gabriel Wittex- Một dạng sinh thể sóng cho biết rằng, vũ trụ chứa đầy trí tuệ. Một số trí tuệ đã được biểu hiện. Số khác chưa được biểu hiện, nhưng chắc chắn cuối cùng không một trí tuệ nào là không được biểu hiện.

       Qua nhà ngoại cảm Arthur Findlay- Sinh thể sóng này thừa nhận là trong bình diện vật lý, nó chỉ chọn ý thức tương ứng với một băng tần số tương đối thấp. Trong lúc đó, tại cõi ête (ở đây cũng có sự sống) thì ý thức lại tương ứng với một băng tần số cao hơn. Ở cõi ête này, sự sống cũng đủ khả năng hoạt động khi được giải phóng khỏi vật chất dày đặc cũng như khi phải mặc cái áo vật lý.

       Nhà xuất thần William Buhlman đã mô tả sự cảm nhận đặc biệt sau đây khi ở trong cơ thể năng lượng thứ năm (trạng thái tựa sóng): “Tôi hiểu ra rằng, tôi không có hình dạng nào cả. Tôi dường như giống ánh sáng mà không có dạng phân biệt bên ngoài. Cái nhìn của tôi là vô tận”.

       Tại một phiên xuất thần vào ngày 7 tháng 12 năm 1992, ông cũng đã gặp một sinh thể sóng và đã diễn ra sự tiếp nhận thông tin bằng trực cảm sau đây:

       Sinh thể sóng- Tôi không có hình dạng như bạn vẫn tưởng. Hình dạng là không cần thiết... Mọi năng lượng có ý thức đều sống trong tần số năng lượng cùng pha với tỷ lệ rung động cá nhân của họ... Tất cả chúng ta đều đang cùng trong cuộc hành trình vĩ đại. Tôi cũng như những đứa trẻ nếu so sánh với những người khác, những người đã đi sâu vào trong vũ trụ. Sự tiến hoá có thể của sinh linh là vô giới hạn...   

       Giới hạn của trí tuệ

       Qua lý thuyết và thực tế có thể tin rằng, ngoài dạng trí tuệ hiện hữu ở con người như hiện nay, còn có các dạng trí tuệ khác tinh tế và kỳ lạ hơn. Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần nhìn thẳng vào sự thực, không nên quá lãng phí thời gian vô ích trong việc tranh cãi bất tận và nắm giữ những triết lý cực đoan vô căn cứ. Các đạo sư từ hàng ngàn năm nay đã có những trải nghiệm tâm linh phong phú và luôn lưu ý rằng, điều bản chất của Tự nhiên không bị giấu kín, nó luôn được phơi bày khắp mọi nơi, sở dĩ mọi người không nhận ra vì hầu hết họ ngắm nhìn sự vật bằng một tâm trí hạn hẹp và khép kín.         

       Không loại trừ khả năng sự sống ở các chiều thực tại năng lượng cũng được tổ chức một cách chặt chẽ, có “nhân vật” đứng đầu cùng với một bộ máy điều hành mọi hoạt động cần thiết. Có lẽ cộng đồng “cư dân” ở mỗi bình diện vật chất vô hình luôn tự cho mình là đại diện cao siêu nhất của vũ trụ vì họ không thể nhận thức được những bình diện vật chất tinh tế hơn. Và sự ảnh hưởng của họ đến loài người có thể là nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh nhiều dạng tôn giáo.      

       Các dạng trí tuệ có thể có mức thể hiện và sáng tạo tư duy khác biệt nhau ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Nhưng con người ở bình diện vật lý cũng có những điều kiện đặc thù mà các sinh thể năng lượng không có. Cuộc sống trần thế sớm hay muộn cũng sẽ dẫn dắt nhiều người đến sự bức bách tìm kiếm lối thoát tâm linh. Có lẽ duy nhất con người ở bình diện vật lý mới hội đủ điều kiện để trở thành dạng trí tuệ siêu đẳng - vị Phật. Các đạo sĩ từ lâu đã có nhận xét rằng, trong số các chúng sinh của vũ trụ thì chỉ các vị Phật mới đủ khả năng thấu triệt chân lý tối thượng sau đây:  Toàn bộ sự sống nói chung đều có bản thể là bình diện tâm thức, chính chiều thực tại này đóng vai trò “linh hồn” của mỗi sinh thể và của cả vũ trụ.

 

 

VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần thứ tám
Trên thế giới đã tồn tại nhiều tôn giáo khác nhau. Những người nghiên cứu tôn giáo thường đặt ra các câu hỏi sau đây: Phải chăng tất cả các tôn giáo đều có chung một nguồn gốc? Sự khác nhau của các tôn giáo do những yếu tố nào tạo ra? Cơ sở để tìm hiểu vấn đề này là gì?


 

Phần thứ tám

CÁC BÍ ẨN

TÔN GIÁO

 

Người ta thường hiểu từ “tôn giáo” là hình thái ý thức xã hội, gồm những quan niệm dựa trên cơ sở niềm tin và sự sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng những lực lượng đó định đoạt tất cả, con người chỉ phải phục tùng và tôn thờ. Tuy vậy, mức độ thể hiện niềm tin, sự sùng bái và phục tùng đối với từng tôn giáo có thể khác nhau căn bản và thay đổi theo các giai đoạn. Ví dụ, Phật giáo nguyên thuỷ chỉ đòi hỏi sự thấu hiểu và cố gắng của bản thân mỗi người, không áp đặt niềm tin vô căn cứ và không yêu cầu sùng bái bất kỳ lực lượng siêu tự nhiên nào vì mỗi cá nhân chính là Phật tiềm năng, có thể tự mình thành đạt kết quả.

Dưới đây sẽ xem xét một số yếu tố có liên quan đến các bí ẩn tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo.

NỀN TẢNG CỦA CÁC TÔN GIÁO

Có thể nhận xét khái quát rằng, tất cả các tôn giáo ít nhiều đều đặt nền móng trên những chiều thực tại năng lượng, trong đó Phật giáo có quan hệ gần gũi nhất với bình diện tâm thức. Cách tiếp cận của Phật giáo mang tính gợi mở khách quan và chủ quan, dẫn dắt con người xuyên sâu vào những miền thực tại không nhìn thấy cho đến tận ranh giới vĩnh cửu là bình diện tâm thức. Không thể biết được thực chất của vũ trụ nếu không tìm hiểu Phật giáo. Mặc dù quả vị Phật là mục tiêu cùng tột của một người tu hành, nhưng ngay từ đầu mỗi cá nhân phải tự nhận thức được bản thân mình chính là Phật tiềm năng, không cần phải cầu xin bên ngoài, vị thầy (nếu có) chỉ là người dẫn đường.

Còn nền tảng niềm tin của các tôn giáo khác thường được thần thánh hoá ở những dạng thức rất đặc biệt, đôi khi ít nhiều được hư cấu hoặc tưởng tượng. Có cơ sở để tin rằng, đến một lúc nào đó tất cả các tôn giáo trên thế giới sẽ được quy tụ vào một dạng thức duy nhất, mang tính khoa học và thực sự hiệu quả.

Nếu đi sâu tìm hiểu giáo lý của các tín ngưỡng khác nhau thì sẽ nhận thấy rằng, đa số các tôn giáo có cùng những điểm cơ bản giống nhau về thực chất, chỉ khác nhau về ngôn từ, hình thức thể hiện và có thể bị thay đổi theo thời gian. Sau đây là một vài ví dụ:

· Những người thành đạt quả vị cùng tột của Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Ấn độ giáo, đạo Sikh v.v... có thực chất hoàn toàn giống nhau, nhưng họ được gọi bằng các tên riêng là Phật, Chúa, Thánh, Minh Sư... Hầu hết mọi người chỉ nhìn thấy sự khác nhau giữa các nhân vật siêu phàm đó bởi tên gọi và tập quán tôn sùng riêng biệt thuộc tôn giáo của họ.

· Mục tiêu cứu cánh của các tôn giáo lớn khi mới xuất hiện chẳng có gì khác nhau. Nhưng sau hàng trăm năm thể hiện trong đời sống, có thể trình độ nhận thức và một số nguyên nhân chính trị - xã hội đã làm thay đổi đường hướng dẫn dắt người tu hành thành đạt chính quả.

· Hầu như tất cả các tôn giáo đều truyền dạy những tín đồ của mình là phải hành thiện và tránh ác, nhưng phương sách thực hiện có thể khác nhau căn bản, đôi khi có thể dẫn đến sự đối đầu hoàn toàn vô nghĩa.

Cũng cần nói thêm rằng, các giáo lý chứa đựng nhiều ngôn từ xưa nay lẫn lộn, rất rườm rà, thiếu chính xác, nên dễ gây hiểu lầm. Ví dụ, nếu trong giáo lý đạo Phật chúng ta phân biệt yếu tố “tâm” thành hai khía cạnh khác biệt nhau là “tâm trí” và “tâm thức” thì chân ngôn “Phật là Tâm, Tâm là Phật” sẽ được thể hiện chính xác hơn ở dạng “Phật là Tâm thức, Tâm thức là Phật”. Nhắc lại rằng, để trở thành Phật, mỗi người phải kiên nhẫn tìm được cho mình một phương sách hiệu quả nhằm chuyển dần vai trò “chủ” từ yếu tố tâm trí (hữu ngã) qua yếu tố tâm thức (vô ngã).

Sự ngăn cách giữa khoa học và tôn giáo từ trước đến nay có lẽ là ở chỗ:  các đối tượng nghiên cứu của khoa học thuộc chiều thực tại vật lý (hữu hình), còn các đối tượng niềm tin và sùng bái của tôn giáo lại thuộc khu vực thực tại năng lượng (vô hình), nơi không được các nhà khoa học thừa nhận hiện hữu.

Có thể tin chắc rằng, thuyết vũ trụ đa chiều thực tại ở đây và những kết quả rút ra từ đó sẽ là chiếc cầu nối bền vững giữa khoa học và tôn giáo, làm cho hai lĩnh vực này của tri thức nhân loại hợp thành một thể thống nhất trên con đường khám phá mọi bí ẩn của vũ trụ.

CÁC MỨC CHỨNG NGỘ VÔ NGÃ

Như đã chỉ rõ trong phần 5, mỗi cá nhân có thể chứng ngộ vô ngã (thành Phật) khi con trỏ tâm thức trở nên thường trực tại cơ thể năng lượng thứ năm hoặc thứ sáu. Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu tâm linh hiện nay, con người có thể có nhiều cơ thể không nhìn thấy khác ngoài số cơ thể năng lượng đã được nhận diện. Do đó, có thể nói đến nhiều mức chứng ngộ (lớn hơn 3) tuỳ thuộc sự hiện diện thường trực của con trỏ tâm thức ở các cơ thể năng lượng.

Mức thấp nhất chứng ngộ vô ngã sẽ đạt được khi con trỏ tâm thức trở nên thường trực ở cơ thể năng lượng thứ năm. Tiếp đó, khi con trỏ tâm thức của một cá nhân được dịch chuyển đến những cơ thể năng lượng càng tinh tế hơn thì người đó có cảm nhận càng đồng nhất hơn với bình diện tâm thức (có các thuộc tính vô hạn, vĩnh hằng, tĩnh lặng, phi không - thời gian, bất biến, trong suốt, trống rỗng, phi lý trí, phi cảm xúc v.v...). Mối quan hệ đó trong Phật giáo thường được phát biểu ngắn gọn ở dạng chân ngôn “Phật là Tâm thức, Tâm thức là Phật, còn trong một số tôn giáo khác nó được thể hiện là “Linh hồn ở trong Thượng Đế, Thượng Đế ở trong Linh hồn”. Hai cách diễn đạt này sẽ trở nên đồng nhất nếu chúng ta chú ý rằng: các yếu tố “Tâm thức” và “Linh hồn” có cùng ý nghĩa (xem phần 4), còn các từ “là” và “ở trong” với ngữ cảnh được xét cũng sẽ không có gì khác nhau vì liên quan đến đối tượng siêu việt.

NHỮNG CÂU NÓI BÍ ẨN

Một số vị Phật và vị Thánh đã để lại nhiều câu nói có vẻ nghịch lý mà những người tôn giáo hậu thế cũng không thể hiểu nổi. Sau đây sẽ xem xét một số ví dụ.

Chúa Jesus đồng đại với Abraham? Trong Sách Phúc Âm do Jean ghi lại, Chúa Jesus đã nói “...Trước khi Abraham ra đời, Ta vẫn hiện hữu” (Jean, 8:58).

Điều phi lý trong câu nói này là ở chỗ: Abraham đã sống trước Chúa Jesus hàng ngàn năm. Rõ ràng, nếu hiểu theo cách thông thường thì câu nói của Đức Chúa là sai. Có lẽ Chúa Jesus đã ngụ ý đồng nhất bản thân mình với bình diện tâm thức, khi đó con người - tâm thức vốn tồn tại vĩnh hằng (đây là quan niệm đặc trưng của những người chứng ngộ vô ngã ở mức cao).

Thiên Quốc là gì và ở đâu? Trong Sách Phúc Âm do Luca ghi lại, có một đoạn như sau: “Các người Pha-ri-si hỏi Chúa: ‘Bao giờ Thiên Quốc mới thể hiện?’ Ngài đáp: ‘Thiên Quốc không thể hiện cho người ta quan sát. Không ai có thể nói Thiên Quốc ở đây hoặc ở đó, vì Thiên Quốc ở giữa các ngươi!’” (Luca, 17:20-21).

Trong bốn Sách Phúc Âm của Thánh kinh Tân ước do các tác giả Mathew, Mac, Luca và Jean ghi lại, danh từ Thiên Quốc có mặt thường xuyên. Theo chính Đức Chúa thì Thiên Quốc là của Thượng Đế, là một nơi chốn an bình và vô cùng hạnh phúc mà con người cần phải cố gắng không mệt mỏi để được vào đó. Chúa Jesus đã dùng rất nhiều hình tượng ngụ ngôn để nói về Thiên Quốc, nhưng không ai hiểu được thực chất của Thiên Quốc là gì và nó ở đâu.

Để có thể đưa ra câu trả lời khả dĩ, chúng ta cần chú ý đến 2 chi tiết đặc biệt sau đây theo lời của Đức Chúa:

“Thật, Ta bảo các con, nếu các con không thay đổi và trở nên giống như trẻ thơ, các con không thể vào Thiên Quốc được” (Mathew, 18:3);

“Hỡi các con, vào Thiên Quốc thật là khó. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Thiên Quốc” (Mac, 10:24).

Rõ ràng, trẻ thơ là con người phi bản ngã. Ngược lại, người giàu là cá nhân có ý thức sở hữu rất lớn. Mặt khác, bản ngã của mỗi cá nhân phần lớn phụ thuộc vào mức độ sở hữu. Vì vậy, có thể tin chắc rằng Chúa Jesus đã ngụ ý: một người chỉ có thể vào được Thiên Quốc nếu không có ý thức riêng tư hay vô ngã. Trong trường hợp này thì Thiên Quốc, Niết Bàn và bình diện tâm thức đồng nghĩa.

Điều kiện để vào Thiên Quốc: Một trong những câu nói bí ẩn khác của Chúa Jesus có liên quan đến điều kiện để vào Thiên Quốc: “... Nếu một người chẳng sinh ra lần nữa thì không thể thấy Thiên Quốc” (Jean, 3:3).

Muốn hiểu ý nghĩa của câu này cần phải xuất phát từ thuộc tính “vô ngã” của một vị Phật. Như chúng ta đã biết, một người để trở thành Phật cần phải hoàn toàn vứt bỏ bản ngã của mình. Sau sự kiện đó, cá nhân - vô ngã (vị Phật) sẽ có cảm nhận như một con người mới hoàn toàn. Có lẽ điều này là thực chất mà Chúa Jesus muốn nói tới.

Điều kiện để biết được Đạo: Tác giả của tác phẩm Đạo Đức Kinh là Lão Tử cũng nêu ra một chi tiết tương tự như điều kiện để vào Thiên Quốc nói trên. Ngay ở chương 1, câu C có nội dung như sau:

“Thường không tư dục mới nhận được chỗ huyền diệu của Đạo; thường bị tư dục nên chỉ thấy chỗ chia lìa của Đạo”.

Cần nhận xét rằng, hầu hết những người bình chú Đạo Đức Kinh của Lão Tử đều không thể lột tả được thực chất của câu này vì họ không hiểu bản chất của một vị Phật. Một cá nhân “không tư dục” có nghĩa người đó là vô ngã hay người đó là vị Phật. Toàn bộ vũ trụ và cả vị Phật được gắn kết với nhau thành một thể thống nhất (cái Một) dưới nhãn quan của một người đã chứng ngộ vô ngã. Trạng thái siêu việt này của con người phát sinh từ Đạo hay bình diện tâm thức. Trong khi đó tất cả chúng ta, những người còn có bản ngã hay “bị tư dục”, lại chỉ thấy sự “chia lìa” của mọi sự vật cho dù Đạo vẫn tồn tại khắp mọi nơi.         

Phật Thích Ca đã im lặng 49 năm? Vào lúc sắp rời khỏi thế gian, Đức Phật sợ người đời lầm lẫn nên bảo ngài Văn Thù rằng: “Ta trụ ở đời đã bốn mươi chín năm, nhưng chưa từng nói một chữ dạy người”.

Theo truyền thuyết, sau khi chứng ngộ ở độ tuổi 31, Phật Thích Ca đã sống thêm 49 năm nữa. Vì sao trong thời gian đó dù Đức Phật đã thuyết giảng rất nhiều, nhưng Ngài lại khẳng định “chưa từng nói một chữ dạy người”. Điều này hoàn toàn dễ hiểu nếu xem xét dưới góc độ của một người đã chứng ngộ vô ngã. Trong trường hợp đó vị Phật đồng nhất bản thân với yếu tố tâm thức (tuyệt đối im lặng), còn hai yếu tố thể xác và tâm trí chỉ là những công cụ tiện dụng trong đời sống hàng ngày.

Không có ai trên đời này? Trong Kinh Kim Cương dẫn ra lời sau đây của Phật Thích Ca: “Tất cả các chúng sinh mà Như Lai đã nói đến, thực ra chẳng có chúng sinh nào. Vì sao vậy? Bởi vì tất cả những gì có hình tướng đều là giả”. (Kinh Kim Cương đã được Phật Thích Ca nói ra trước sự hiện diện của 1250 tu sĩ, nội dung của nó cực kỳ khó hiểu.)

Nội dung của câu nói này hoàn toàn vô nghĩa dưới nhãn quan của người bình thường. Nhưng với một người đã chứng ngộ vô ngã ở mức cao thì câu nói có ý nghĩa tuyệt đối đúng. Thực vậy, Phật Thích Ca đã thấu hiểu bản chất của Niết Bàn hay bình diện tâm thức, Ngài đã nhận ra các chúng sinh thực chất chỉ như những rôbơt đa chiều đã và đang lầm tưởng tự mình sinh ra mọi thứ cảm xúc và lý trí.     

Chẳng đến cũng chẳng đi? Cũng trong Kinh Kim Cương có câu: “Bất kể ai nói rằng Như Lai đến, đứng, ngồi hay nằm đều không hiểu ý nghĩa của giáo huấn Ta. Như Lai là tên gọi người chẳng đi đâu cả, không đến đâu cả”. Nội dung của câu nói này sẽ trở nên rõ ràng nếu chú ý rằng: khác với con người - thể xác, con người - tâm thức hiện hữu vĩnh hằng ở khắp mọi nơi.

Ý nghĩa về cái cười của thiền? Truyền thuyết kể lại rằng, một hôm Phật Thích Ca có ý định trao lại cho môn đệ một điều gì đó cao siêu. Hàng ngàn người gần xa đã kéo đến tụ tập cùng nhau để lĩnh hội.

Khi Đức Phật xuất hiện, Ngài cầm trong tay một bông hoa. Thời gian trôi qua mà Đức Phật vẫn im lặng. Ngài chỉ nhìn vào bông hoa. Mọi người trở nên thấp thỏm. Đột nhiên, có một môn đệ tên là Mahakashyap không thể nào kìm giữ mình được nữa đã phá lên cười rất to. Đức Phật gật đầu ra hiệu cho người đó tới, trao cho ông ta bông hoa và nói với đám đông:

- Ta có sự sáng suốt của giáo huấn về chân lý tối thượng. Tất cả những gì có thể nói ra bằng lời thì ta đã trao cho mọi người. Nhưng bằng bông hoa này, ta trao cho Mahakashyap điều then chốt của giáo huấn đó.   

Nội dung câu chuyện trên đây có ý nghĩa rất sâu sắc vì từ đó phát sinh ra truyền thống của thiền (zen): Đức Phật là ngọn nguồn, còn Mahakashyap là vị thầy thứ nhất. Ông đã trở thành người đầu tiên nắm giữ điều then chốt của giáo huấn về thiền. Đã có sáu người kế tục lưu truyền ở Ấn Độ cho tới Bồ Đề Đạt Ma. Ông này là người thứ sáu lưu giữ điều then chốt, và ông đã tìm kiếm khắp Ấn Độ, nhưng chẳng thể nào tìm được một người xứng đáng. Bởi vậy, ông đã phải qua Trung Quốc để tìm kiếm người kế tục.

Phật giáo đã vào Trung Quốc cùng với Bồ Đề Đạt Ma trong mối hy vọng tìm kiếm một người để có thể trao được điều then chốt. Trong chín năm tìm kiếm, Bồ Đề Đạt Ma đã gặp được một người Trung Quốc xứng đáng và người đó đã trở thành vị thầy thứ bảy. Và cho đến nay, điều then chốt vẫn không thay đổi, một ai đó vẫn đang nắm giữ nó.

Vậy cái cười của Mahakashyap hàm chứa ý nghĩa như thế nào? Cái cười của Mahakashyap có thể đã mang nhiều ẩn ý sâu xa. Trước hết, ông cười vào cái đần độn của toàn bộ tình huống, cười vào việc Đức Phật im lặng mà chẳng ai hiểu được Ngài, ai cũng trông đợi Ngài nói. Toàn bộ cuộc đời của Đức Phật đã nói lên rằng, chân lý tối thượng không thể được nói ra mà phải được trải nghiệm, thế mà vẫn có nhiều người cứ trông đợi Ngài nói. Tiếp đến, ông cười vào cả Đức Phật nữa, chính Ngài đã tạo ra một tình huống đầy kịch tính, làm cho mọi người cứ thấp thỏm và căng thẳng. Và cuối cùng, ông cười vào chính bản thân mình. Sao trước đây mình không hiểu được? Ông đã hiểu cái gì? Ông hiểu rằng chẳng có gì phải hiểu, chẳng có gì cần nói ra, chẳng có gì phải được giải thích. Toàn bộ vấn đề thật dễ dàng và đơn giản, chẳng có gì bị che giấu bên trong nó. Không cần phải tìm kiếm, vì sự tồn tại toàn bộ đều ở đây và bây giờ, bên trong mỗi người. Đến ngày mà một người hiểu ra chân lý tối thượng đó thì anh ta sẽ cười to, vì chẳng có gì đơn giản hơn thế. Không có khó khăn nào phải giải quyết. Mọi thứ bao giờ cũng trong suốt và rõ ràng. Làm sao người ta có thể không hiểu được?

Điều then chốt mà Đức Phật đã truyền trao là gì? Nó được giải mã là sự im lặng và cái cười - im lặng bên trong và cái cười bên ngoài. Khi cái cười bật ra từ sự im lặng bên trong thì đó không phải là điều trần tục, nó là một điều thiêng liêng. Khi đó con người cười vào toàn bộ trò đùa của vũ trụ. Còn cái gì khác có thể là chuyện đùa hơn thế? Mỗi con người tự thân như là vua mà lại hành động hệt như kẻ ăn mày. Mỗi con người có một nguồn tất cả mọi tri thức mà luôn đặt ra hết câu hỏi này đến câu hỏi khác. Mỗi con người có cái bất tử bên trong mà lại sợ hãi và hoảng hốt về cái chết thể xác. Mỗi con người mang theo mình nguồn phúc lạc lớn lao mà trong nhiều kiếp sống không hề nhận ra.

Có hai thành phần của điều then chốt. Thành phần thứ nhất là sự im lặng bên trong - im lặng sâu sắc đến độ không còn vọng động nào trong con người, tâm trí và cảm xúc của con người thư thái, phẳng lặng như mặt hồ không một gợn sóng; trong trường hợp đó con người tiếp cận tới trung tâm của mình, đó chính là yếu tố tâm thức. Tại trung tâm, con người sẽ trở nên vô cùng phúc lạc.

Thành phần thứ hai của điều then chốt là cái cười, nó thuộc phần ngoại vi. Khi bên trong một cá nhân là sự im lặng sâu sắc (không kìm nén) thì cái cười bên ngoài của người đó trở nên lễ hội. Đây là sự vui nhộn và im lặng.

Con người có thể trở nên tĩnh lặng nhờ thiền. Thiền có nghĩa là chứng kiến, bất kỳ điều gì mà con người thực hiện với sự chứng kiến thì đều là thiền. Nhưng thiền không dẫn con người đến im lặng. Nó chỉ tạo ra tình huống mà trong đó sự im lặng có thể xảy ra bất thần. Một người chỉ có thể trở nên chứng ngộ vô ngã khi sự im lặng đã đi tới lễ hội. Sự im lặng như vậy sẽ trở thành cái cười. Đó là trạng thái của một vị Phật, người thức tỉnh

Thế gian này là một giấc mộng? Những người đã chứng ngộ vô ngã thường nói rằng: thế gian này là một giấc mộng triền miên. Cần phải hiểu ý nghĩa của câu này như thế nào? Dễ thấy rằng, dưới nhãn quan của những người bình thường như chúng ta, mọi thứ đều diễn ra rất thực. Không một người có lý trí tỉnh táo nào lại tin vào tính “mộng” của mọi thứ xảy ra xung quanh mình trong khi thức.

Tồn tại nhiều cách lý giải về phát biểu trên đây. Nhưng có lẽ chỗ dựa chủ yếu cho lời giải đáp đúng đắn phải xuất phát từ những điều bản chất hiện hữu ở một vị Phật.

Như trên đã nói đến nhiều lần, một người đã chứng ngộ vô ngã luôn sống trong một trạng thái đồng nhất bản thân mình với cái Một, không có cảm nhận sự chia lìa giữa các sự vật. Các vị Phật coi đây là trạng thái tuyệt đối và đích thực mà con người có thể rơi vào nhờ một quá trình tu luyện kiên trì trong nhiều kiếp sống. Trạng thái này không phụ thuộc vào từng cá nhân cụ thể, nó là chung cho tất cả những người đã chứng ngộ vô ngã. Vì vậy, các vị Phật coi những gì mà họ đã trải qua trước khi chứng ngộ chỉ là “mộng”.

Một khía cạnh khác nữa cũng cần được diễn giải bổ sung. Sau khi chứng ngộ vô ngã, vị Phật trở thành con người tỉnh thức - có ý thức sáng tỏ trong suốt 24 giờ mỗi ngày, kể cả trong khi ngủ. Còn trước khi chứng ngộ vô ngã, mọi hoạt động và hành vi của con người không ít khi diễn ra một cách máy móc, vô ý thức, tâm trí thiếu tập trung, dù thức nhưng tâm trạng có thể vẫn cảm thấy mơ hồ. Điều này thực chất là trạng thái “mộng” nếu so sánh với trạng thái “tỉnh thức” của một vị Phật.

 

 

VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần thứ 9
Theo thuyết tương đối của Einstein, thời gian và không gian không phải là những đại lượng độc lập nhau và chúng là thuộc tính của vật chất, chứ không phải tồn tại tự thân. Điều đáng chú ý là từ thuyết đa chiều thực tại còn suy ra sự phụ thuộc của không gian và thời gian vào ý thức con người...

 

Phần thứ chín

CÁC THUỘC TÍNH

CỦATHỰCTẠI

 

Trong phần này chúng ta sẽ xem xét các thuộc tính chủ yếu của thực tại là không gian, thời gian và ý thức dưới góc độ thuyết vũ trụ đa chiều. Những thuộc tính đó từ lâu đã được các nhà khoa học rất chú ý. Đặc biệt, quá trình phát triển nhảy vọt của lĩnh vực vật lý trong thế kỷ 20 đã làm thay đổi căn bản sự nhận thức của con người về cả ba thứ thuộc tính đó.   

        Quan niệm về không gian, thời gian

       Những ý niệm của chúng ta hiện nay về chuyển động của các vật đều có nguồn gốc từ hai nhà vật lý nổi tiếng là Gallileo và Newton. Các thực nghiệm đo đạc của Gallileo đã được Newton sử dụng để làm cơ sở cho những định luật về chuyển động trong hệ thống cơ học của ông. Theo đó, người ta chấp nhận không gian là một yếu tố vĩnh cửu và bất động. Nó là sân khấu trống rỗng cho mọi quá trình biến đổi xảy ra và hoàn toàn không có ảnh hưởng lẫn nhau.

       Điều tương tự cũng được chấp nhận cho cả thời gian. Trong hệ cơ học của Newton, thời gian được coi là một yếu tố độc lập và trôi đi một cách đều đặn từ quá khứ tới tương lai. Thời gian không bị ảnh hưởng bởi sự vận động của các vật và ngược lại. Thời gian dường như cũng tồn tại vĩnh cửu, tức là nó có trước vật chất.

       Một điểm đặc biệt đáng chú ý nữa là không gian tuyệt đối và thời gian tuyệt đối theo kiểu nói trên cũng không bị ảnh hưởng lẫn nhau. Nói cách khác, chúng dường như là những yếu tố tồn tại hoàn toàn độc lập.             

       Sau khi ra đời Thuyết tương đối đặc biệt (1905) và Thuyết tương đối tổng quát (1915) của Einstein, các quan niệm về không gian và thời gian đã có những thay đổi căn bản, được thể hiện ở một số khía cạnh sau đây:

      · Thời gian phụ thuộc vào người quan sát - các đồng hồ đo thời gian giống hệt nhau được mang bởi những người quan sát mà một số từ họ chuyển động với vận tốc cực lớn có thể cho giá trị thời gian khác nhau;

      · Thời gian và không gian phụ thuộc lẫn nhau, lập thành một yếu tố không - thời gian - mỗi điểm trong bình diện vật lý có thể được mô tả bởi một tổ hợp 4 toạ độ có vai trò như nhau, trong đó 3 toạ độ chỉ không gian, còn toạ độ thứ tư chỉ thời gian;

      · Không - thời gian là một yếu tố động lực - khi một vật chuyển động hoặc một lực tác dụng thì chúng ảnh hưởng đến không - thời gian xung quanh và ngược lại, cấu trúc của không - thời gian sẽ ảnh hưởng đến chuyển động của các vật hoặc tác dụng của các lực; 

      · Không gian và thời gian phụ thuộc vào vật chất - không gian và thời gian không tồn tại tự thân, chúng là những thuộc tính của vật chất, chúng đã phát sinh đồng thời với sự xuất hiện của vật chất và sẽ biến mất nếu vật chất không tồn tại.

       Dưới góc độ của thuyết vũ trụ đa chiều thực tại, quan niệm về không gian và thời gian sẽ có những thay đổi sâu sắc hơn. Thứ nhất, khái niệm về không gian và thời gian từ trước đến nay được nói đến trong khoa học chỉ là thuộc tính của vật chất hữu hình (vật lý), nhưng từ thuyết vũ trụ đa chiều có thể suy ra sự tồn tại không gian và thời gian của vật chất vô hình (vật chất ở dạng năng lượng). Nói cách khác, không gian và thời gian là những thuộc tính của vật chất có cấu trúc (chỉ duy nhất bình diện tâm thức không có không gian và thời gian vì chứa vật chất phi cấu trúc).

       Thứ hai, không gian và thời gian ở những chiều thực tại khác nhau không nhất thiết giống nhau. Đây là một vấn đề đã được các nhà tâm linh bàn đến mặc dù nó chưa được nghiên cứu trong lĩnh vực vật lý. Nói cách khác, không gian và thời gian phụ thuộc vào các chiều thực tại.

       Thứ ba, chúng ta có thể nói đến không gian và thời gian đa chiều với các toạ độ nằm trong những chiều thực tại khác nhau. Ví dụ, sự kết hợp giữa bình diện vật lý và bình diện phi vật lý kề cận (NF1) sẽ cho không gian 6 chiều và thời gian 2 chiều.  

       Thứ tư, không gian và thời gian thực chất là những thuộc tính do “hiệu ứng tâm thức” tạo nên. Nói cách khác, hai thuộc tính đó là kết quả tương tác giữa bình diện tâm thức và các bình diện vật chất có cấu trúc. Nếu thiếu một trong hai thành phần đó thì cả không gian và thời gian sẽ biến mất. Đây là một khía cạnh hoàn toàn mới so với quan niệm của vật lý học hiện đại.

        Mối quan hệ giữa không gian, thời gian và ý thức

       Theo nghĩa hẹp, “ý thức” là sự phản ánh và tái hiện thực tại xung quanh vào lý trí của một sinh thể. Ở đây chúng ta sẽ giới hạn xem xét ý thức của con người.

       Đầu tiên, cần phân biệt hai loại ý thức được phản ánh qua tâm trí và tâm thức tương ứng. Đây là một khía cạnh hoàn toàn mới, mặc dù liên quan đến những hiện tượng có nguồn gốc từ cổ xưa. Sự khác nhau giữa hai loại ý thức này mới nhìn qua thì có vẻ tầm thường, nhưng thực chất thì chúng khác nhau một cách căn bản. Loại ý thức thứ nhất, tạm gọi là “ý thức lai tạp”, hiện hữu ở tất cả những con người còn đồng nhất bản thân mình với thân vật lý và tâm trí. Họ nhận biết sự vật theo không gian tương đối (có liên quan đến các địa điểm khác) và thời gian tương đối (có liên quan đến các thời điểm khác). Như vậy, ý thức lai tạp của mỗi người phản ánh không gian và thời gian theo một cách đặc trưng, thường là mang tính chủ quan cá nhân. Cần lưu ý rằng, sự phản ánh một sự vật qua ý thức lai tạp ít nhiều sẽ đi kèm với “thái độ” cảm nhận của tâm trí người quan sát.

       Loại ý thức thứ hai, tạm gọi là “ý thức thuần khiết”, hiện hữu ở các vị Phật. Họ có khả năng phản ánh hiện thực xung quanh qua tâm thức (chứ không phải tâm trí) trong khung cảnh không gian và thời gian “ở đây và bây giờ”, được thể hiện bởi hai khía cạnh đáng chú ý sau đây:

      · Chỉ có thời gian “bây giờ”- một vị Phật có thể chứng kiến mọi sự vật xung quanh bằng tâm thức một cách tức thời, độc lập với tâm trí, không có bất kỳ mối liên hệ nào với các thời điểm quá khứ và tương lai; 

      · Chỉ có không gian “ở đây” - một vị Phật có thể chứng kiến mọi sự vật xung quanh bằng tâm thức một cách cục bộ, độc lập với tâm trí, không có bất kỳ mối liên hệ nào với các địa điểm xuất hiện trong quá khứ và tương lai.

       Bởi vậy, một trong những tiêu chuẩn đơn giản để một người tự khẳng định bản thân đã chứng ngộ vô ngã (thành Phật) là kiểm tra tính “ở đây và bây giờ” của ý thức mình. Các vị Phật xưa nay luôn khẳng định rằng, nếu một người tiếp nhận sự vật xung quanh mình như thể sự phản chiếu qua gương thì bản thân sẽ trở nên ung dung tự tại trước mọi hoàn cảnh. Điều này được coi là niềm phúc lạc vô điều kiện.

       Trạng thái nhận biết sự vật bằng tâm thức là một trong những điều bí ẩn nhất mà con người có thể chứng đạt. Nó đòi hỏi một quá trình tu luyện lâu dài, bền bỉ và đúng cách.

        Tính tuyệt đối của thực tại vật lý

       Dễ thấy rằng, con người nhận biết và đánh giá mọi sự vật trên cơ sở ngôn ngữ nhị nguyên. Các đặc trưng định tính của sự vật thường được phân chia thành hai mức tương phản nhau, thậm chí đối kháng nhau. Điều này làm cho mỗi người luôn có “thái độ” chọn lựa hoặc đánh giá hầu như trước bất kỳ một sự vật nào. Cũng vì vậy mà mỗi người thường nhìn nhận thế giới sự vật một cách rời rạc, chia chẻ, chủ quan và có thể gây cho bản thân sự khổ đau vô ích. Như vậy, thực tại vật lý hiện ra trước mắt mỗi người bình thường một cách tương đối, muôn hình muôn vẻ.

       Nhưng theo các tư liệu tâm linh, thực tại vật lý có thể xuất hiện trước mắt các vị Phật một cách tuyệt đối và cùng dạng. Tính “tuyệt đối” của thực tại vật lý được nhận biết bằng tâm thức và thể hiện bởi hai đặc điểm sau đây:

      · Mọi sự vật được tiếp nhận trong một tổng thể duy nhất, phi chọn lựa, phi đánh giá và phi dấu vết;

      · Thực tại được tiếp nhận tuyệt đối như nhau bởi các cá nhân khác nhau.

       Vì sao có điều đó? Các nhà tâm linh cho biết rằng, không ai có thể mô tả được sự cảm nhận siêu việt của một vị Phật vì Ngài nhận biết thực tại qua tâm thức một cách phi dấu vết, còn trong thời gian đó tâm trí dừng hoạt động. Chỉ có thể tìm hiểu quá trình đó bằng suy diễn.

       Như trong phần 4 đã chỉ ra, ngoài thân vật lý, con người còn có 2 thành phần cơ bản khác là tâm trí và tâm thức, trong đó yếu tố thứ ba có vai trò đặc biệt mà chỉ các vị Phật biết rõ. Người ta ví sự nhận biết thực tại bằng tâm thức cũng giống như sự phản chiếu cảnh vật bởi mặt hồ lặng sóng trong điều kiện trời quang mây tạnh. Sự phản chiếu như vậy sẽ tạo nên chuỗi hình ảnh trung thực. Nhưng khi mặt hồ bị lay chuyển bởi ảnh hưởng bên ngoài như mưa, gió, chấn động... thì độ trung thực phản chiếu của nó sẽ giảm sút. Trong trường hợp này chuỗi hình ảnh phản chiếu sẽ bị bóp méo ít nhiều tuỳ thuộc vào mức độ gợn sóng của mặt hồ. Chính ảnh hưởng “gợn sóng” đó có vai trò như sự tác động của tâm trí con người gây “tạp nhiễu” trong khi tâm thức chứng kiến thực tại. Nhìn bề ngoài, có vẻ như tâm trí thay thế vai trò của tâm thức để “chứng kiến” sự vật.

       Nói một cách ngắn gọn, các vị Phật có thể nhận biết thực tại bởi yếu tố tâm thức tương đồng nhau, còn những người thường - bằng các yếu tố tâm trí khác nhau.

        Khái niệm về “băng thực tại”

       Hầu hết mọi người dễ dàng hiểu được ý nghĩa khi nói về “băng sóng”. Nhưng có lẽ lần đầu tiên chúng ta đề cập đến khái niệm “băng thực tại” với nội dung tương tự. Sự khác nhau chỉ là ở chỗ: trong khi “sóng” là một hình thức truyền tải năng lượng, thì “thực tại” là một hình thức tồn tại năng lượng (cần lưu ý các vật thể chỉ là những khối năng lượng dày đặc).

       Chúng ta biết rằng, con người nhận biết được thực tại hữu hình chủ yếu nhờ 5 giác quan vật lý là thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác và vị giác. Bộ não đóng vai trò trung tâm điều khiển, tiếp nhận, lưu trữ, xử lý, và hiển thị thông tin. Nếu khảo sát một cách toàn diện sẽ thấy rằng, con người thực chất là một “cỗ máy nhận biết” có thể được hiệu chỉnh ở những băng thực tại khác nhau, mỗi băng ứng với khả năng nhận biết một hoặc một số chiều thực tại kế tiếp nhau. Ví dụ, hầu hết chúng ta chỉ có băng thực tại vật lý, tức là chỉ nhận biết bình diện vật lý. Nhưng thực tế và lý thuyết đã chỉ ra rằng, bằng con đường bẩm sinh hoặc rèn luyện phù hợp (thiền, xuất thần, khai mở luân xa, thôi miên), băng thực tại của mỗi cá nhân có thể được mở rộng, thậm chí có thể “phủ” đồng thời vài ba chiều thực tại. Khi đó khả năng nhận biết của con người sẽ tăng lên. Khoa học chưa bao giờ thừa nhận sự kiện đó, cho dù các hiện tượng tương tự xuất hiện ngày càng nhiều trên khắp thế giới.       

       Ngoài bình diện vật lý, cho đến thời điểm này khoa học chưa thừa nhận các bình diện vật chất vô hình khác. Một phần nguyên nhân có thể có nguồn gốc từ “luật đám đông”. Bởi vì tuyệt đại đa số loài người trên Trái Đất chỉ có băng thực tại vật lý, còn số người có băng thực tại mở rộng hơn chiếm tỷ lệ quá ít, nên chưa đủ sức thuyết phục. Một lý do khác nằm ở nền tảng của sự tin cậy. Trước đây, nếu cứ giả định là có một chiều thực tại vô hình thì người ta không thể hiểu được thực chất của nó là gì, vật chất hay phi vật chất. Thuyết vũ trụ đa chiều được đề xuất trong cuốn sách này đã đề cập đến bình diện tâm thức chính là nền tảng vật chất chung cho tất cả các chiều thực tại, đồng thời đã chỉ rõ nó có vai trò động lực toàn năng tạo nên sự tiến hoá của vũ trụ nói chung và sự sống nói riêng. Như vậy, bình diện vật lý và các bình diện năng lượng đều có nền tảng vật chất như nhau, tất cả chúng đều được sinh ra từ một nguồn vật chất vô tận và vĩnh cửu là bình diện tâm thức.  

        Kinh nghiệm tâm linh cho biết rằng, những người có băng thực tại mở rộng có thể thuộc các dạng khác nhau. Một số có khả năng dịch chuyển tri giác từ chiều thực tại này qua chiều thực tại khác. Khi đó, chiều thực tại hiện hành sẽ được nhận biết rõ nét nhất (điều này đặc biệt đúng đối với những người xuất thần sau khi rời bỏ thân vật lý). Số khác có băng thực tại mở rộng đồng thời, tức là có thể cùng lúc nhận biết hai hoặc nhiều chiều thực tại v.v...

       Chúng ta hy vọng rằng, trong một tương lai gần sẽ có nhiều người đạt được sự mở rộng băng thực tại của mình nhờ tập luyện hoặc tác động tâm linh.

 

VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần thứ 10
Có nhiều hiện tượng rất quen thuộc với đời sống con người nhưng dường như không thể lý giải được từ những hiểu biết của thế giới vật lý (hữu hình). Trong khi đó, dưới góc độ của thuyết đa chiều thực tại có thể làm sáng tỏ các bí ẩn đã tồn tại bao đời nay...

 

Phần thứ mười

MỘT SỐ BÍ ẨN

PHIVẬT

 

 Từ “phi vật lý” được dùng ở đây để chỉ tất cả những gì có liên quan đến các chiều thực tại năng lượng (vô hình). Mặc dù chúng ta đang sống ở thế kỷ 21 với nhiều thành tựu khoa học - công nghệ vĩ đại, nhưng vẫn tồn tại vô số hiện tượng phi vật lý chưa có lời giải đáp thoả đáng. Trong phần này chúng ta sẽ áp dụng thuyết vũ trụ đa chiều và những kết quả rút ra từ đó để lý giải một số khía cạnh bí ẩn thuộc các chiều thực tại năng lượng.

        Các giác quan đặc biệt

       Chúng ta thường nói đến năm giác quan vật lý của con người là thị giác (nhận biết hình ảnh), thính giác (nhận biết âm thanh), xúc giác (cảm nhận về hình thể và trạng thái), vị giác (cảm nhận về vị) và khứu giác (cảm nhận về mùi). Tất cả các giác quan đó chủ yếu tiếp nhận thông tin từ bên ngoài thuộc bình diện vật lý. Nhưng tồn tại một giác quan nội tâm rất quan trọng mà ít khi được chú ý tới, đó là giác quan nhận biết những gì xảy ra bên trong con người về cảm xúc và trí tuệ. Ở đây tạm gọi nó là “tâm giác”. Rõ ràng, nhờ có tâm giác mà con người nhận biết được cảm xúc và ý nghĩ của mình phát sinh từ các chiều năng lượng.

       Như trong phần 4 đã chỉ ra, ít nhất con người có bảy cơ thể năng lượng tương ứng với bảy chiều thực tại phi vật lý. Có cơ sở để tin rằng, mọi cơ thể của con người (vật lý hoặc năng lượng) đều chứa một hệ thống giác quan thích hợp để nhận biết chiều thực tại tương ứng. Các nhà thực hành tâm linh từ lâu đã trải nghiệm điều đó.

       Thực vậy, có khá nhiều tư liệu nói về các giác quan đặc biệt ở con người. Theo Cổ thư của Tây Tạng, tồn tại năm cách khai mở năng khiếu thần thông ở con người: tự nhiên, dược chất, thần chú, tu luyện và thiền định.

       Năng khiếu tự nhiên về giác quan đặc biệt có thể xuất hiện sau khi ra đời một thời gian hoặc do một biến cố nào đó từ bệnh tật, tai nạn... Cách dược chất dựa trên việc sử dụng những chất thuốc kích thích để tác động lên hệ thần kinh giao cảm và khai mở các luân xa. Những chất như vậy được chưng cất bằng phương pháp bí mật, có thể gây nguy hiểm nếu chế tạo không đúng. Cách thần chú sử dụng những câu nói chứa đựng các âm thanh đặc biệt, được phát âm lặp đi lặp lại nhiều lần. Việc tu luyện có nhiều dạng khác nhau, từ sự khổ hạnh để tăng cường ý chí cho đến các kiểu tập luyện kỳ lạ nhằm kiểm soát thể xác và tâm trí. Cách thiền định bao gồm hai khía cạnh là định trí và suy ngẫm, đây là cách khó nhất nhưng có thể cho hiệu quả tốt nhất. Việc thiền định đúng cách đòi hỏi sự cố gắng bền bỉ và vượt khó đặc biệt. Trong cuốn Cổ thư có đưa ra lời cảnh tỉnh đáng chú ý sau đây: “Quyền năng là những năng khiếu tự nhiên sẽ đến khi người tu luyện đạt tới một mức nhất định, đó là những phương tiện giúp người tu tiếp tục con đường của mình... Tuyệt nhiên quyền năng không phải là những điều cầu mong hay mục đích của việc tu hành. Kẻ nào ham mê thần thông sẽ gặp những hậu quả vô cùng tai hại”.                

       Sau đây sẽ xem xét hai loại giác quan đặc biệt hay gặp và thông dụng nhất là thị giác và thính giác.

        Thị giác đặc biệt:  Đây là “mắt thứ ba” tiềm ẩn ngoài hai mắt thường. Nó nằm ở vị trí điểm giữa hai chân mày (luân xa 6). Con mắt này còn có các tên gọi khác như thiên nhãn, thần nhãn, thấu thị, thị giác cao cấp... Sự tồn tại mắt thứ ba ở con người đã được nói tới trong kinh sách từ mấy ngàn năm nay.

        Theo bà E.P. Blavatsky (tác giả cuốn sách Học thuyết bí ẩn, tiếng Nga, năm 1937), tổ tiên cổ xưa của loài người chỉ có mắt thứ ba là cơ quan thị giác duy nhất. Mọi người đều có khả năng nhìn xa trông rộng, bao gồm cả những sự vật ẩn kín. Thị giác của họ không có giới hạn và có thể nhìn thấy sự vật trong khoảnh khắc. Đối với những người như vậy không tồn tại khoảng cách, không có vật cản. Họ thấu hiểu các bí ẩn của tự nhiên. Hai mắt thường ở loài người và động vật mãi sau này mới phát sinh và trở thành một cơ quan thị giác vật lý. Còn mắt thứ ba ngày càng ít được dùng, cho nên dần dần nó bị thoái hoá và quên lãng.

       Các loài sinh vật nói chung cũng có khả năng nhận biết bằng mắt thứ ba. Ví dụ, cú mèo có thể nhìn thấy dễ dàng trong đêm tối và nhận ra nguồn năng lượng phát sinh từ người hay vật nuôi sắp chết. Nhiều người tin rằng, chó nhìn thấy các sinh thể năng lượng nên phản ứng tự vệ bằng cách gầm gừ, sủa, bỏ chạy giật lùi. Loài rắn chuông có thể nhìn xuyên màn đêm. Nhiều con vật có thể thấy trước hiện tượng động đất, sóng thần v.v... Thậm chí, các cây cối cũng có biểu hiện phản ứng trước một mối nguy hiểm hay một tình cảm thân thiện. Nhờ sự cảm nhận tựa như mắt thứ ba mà chúng có thể giao tiếp với con người. Thổ dân của một số khu vực trên thế giới vẫn còn lưu giữ những tập tục rất kỳ lạ về đời sống hoà đồng với các loài động vật và cây cỏ.

       Lưu truyền trong thế giới Phật giáo một câu chuyện cảm động nói về thiên nhãn. Trong số mười đại đệ tử của Phật Thích Ca có một người tên là A Na Luật. Người này sinh trưởng trong dòng dõi vua chúa, vốn là em con chú của Đức Phật và là em ruột của vua Ma Ha Nam. Sau khi đạo sĩ Cồ Đàm chứng ngộ thành Phật, chàng thanh niên A Na Luật dứt bỏ con đường công danh để xuất gia theo Ngài.

       Tuy đạo tâm của A Na Luật rất bền vững, nhưng có một lần ông đã bị Đức Phật quở trách nặng nề. Trong một buổi giảng kinh, Đức Phật đã nhìn thấy A Na Luật ngủ gật nên Ngài đã lấy hình ảnh loài sò ốc để răn dạy tu sĩ này. Có lẽ vì hối hận, A Na Luật đã thề nguyện với Đức Phật “từ nay về sau cho đến lúc chết con không ngủ trở lại nữa”. Hậu quả là chỉ ít lâu, hai mắt của ông hoàn toàn bị mù. Với lòng từ bi vô hạn, Đức Phật đã khai mở thiên nhãn cho A Na Luật. Nhờ đó mà ông có thể “thấy khắp mọi nơi, không phân biệt gần xa và trong ngoài”. Khả năng thiên nhãn đã giúp A Na Luật hành đạo hiệu quả và giúp đỡ những tu sĩ khác.     

       Một trong những người Mỹ đương đại có mắt thứ ba sáng tỏ là Barbara Ann Brennan - nhà khoa học, nhà tâm lý trị liệu và chữa trị thực hành. Khả năng thấu thị của bà do sự kết hợp bẩm sinh và tự rèn luyện. Bà Brennan lớn lên trong một trang trại ở Wisconsin với tuổi thơ rất bình dị. Vì không có nhiều bạn nên cô bé Barbara thường tha thẩn chơi và ngồi im lặng một mình hàng giờ trong rừng, tập hoà mình vào cảnh vật xung quanh. Giữa những khoảnh khắc yên tĩnh trong rừng, cô bé đi vào một trạng thái bành trướng ý thức, trong đó có thể thấy được những sự vật vượt ra khỏi giới hạn trải nghiệm thông thường.  Bà Brennan còn nhớ là đã tập bịt mắt đi lại trong rừng và nhận biết được từng cây cối, từng con vật nhỏ mà không cần nhìn. Dần dần, bà đã phát hiện ra rằng, mọi vật đều có trường năng lượng bao quanh, phần nào giống như ánh sáng của ngọn nến; mọi vật liên kết với nhau bởi trường năng lượng đó và tất cả mọi thứ đều tồn tại giữa đại dương năng lượng bao la.

       Nhờ thị giác đặc biệt, bà Brennan đã thực hành có hiệu quả việc chữa bệnh bằng năng lượng sinh học, khả năng đó thể hiện ở những điểm sau đây:

      · Thấy rõ cấu trúc màu sắc và biểu hiện bệnh lý của các vùng thuộc cơ thể năng lượng con người;

      · Nhìn thấy các khối u, thậm chí cả các vi khuẩn trong thân thể bệnh nhân;

      · Có thể nhìn thấy các sinh thể năng lượng thuộc một số chiều thực tại phi vật lý.

       Trong cuốn sách Bàn tay ánh sáng, bà Brennan cũng đã đề xuất một quy trình tập luyện khá chi tiết và toàn diện để những ai quan tâm đều có thể tự thực hành khai mở mắt thứ ba của mình.

        Thính giác đặc biệt: Cũng như đối với thị giác, ở con người tiềm ẩn khả năng đặc biệt về thính giác, đó là “tai thứ ba”, nó nằm tại vị trí họng (luân xa 5). Điều này đã được rất nhiều người khẳng định bằng trải nghiệm thực tế. Để minh hoạ, dưới đây sẽ xét một trường hợp phát sinh thính giác đặc biệt do sự cố điện giật, đã xảy ra với ông Nguyền Văn Chiều cách đây gần ba mươi năm.

       Ông Chiều là con một gia đình nông dân, sinh năm 1952, ở thôn Trung, xã Hội Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Khi lớn lên ông đi làm công nhân tại công ty Cơ giới 6, thuộc xí nghiệp Liên hiệp cầu Thăng Long.

       Ngày 10 tháng 7 năm 1976, ông Chiều được giao nhiệm vụ sửa chữa đường dây tải điện. Trước khi ông trèo lên cột điện để làm việc, trạm phân phối đã cắt điện. Trong thời gian ông đang nối dây thì người gác đã tự ý đóng cầu dao và gây nên một tai nạn thảm khốc. Ông Chiều đã bị điện thế 6000 vôn giật, rơi từ đỉnh cột cao 12 mét xuống đất và mê man bất tỉnh. Sau chín ngày “chết lâm sàng”, tự nhiên ông hồi tỉnh và nhận thấy ở mình có một số khả năng khác thường: nghe được một lúc từ không trung nhiều tiếng nói lộn xộn bí ẩn và nhìn thấy nội tạng của những người ngồi xung quanh; khi tập trung sự chú ý vào một thứ tiếng hay một bộ phận thì âm thanh hay hình ảnh đó trở nên rõ nét. Đặc biệt vào khoảng 23 giờ hàng ngày, ông có thể nghe được “sóng” âm thanh dạy cách chữa bệnh bằng mắt và tay. Ông đã ghi chép lại những gì bổ ích nghe được và đã tự chữa cho mình ngay trong thời gian còn nằm điều trị tại bệnh viện. Nhiều năm qua, khả năng chữa bệnh không dùng thuốc của ông Chiều đã được áp dụng có hiệu quả, đặc biệt là sau khi thành lập Trung tâm nghiên cứu tâm năng dưỡng sinh - phục hồi sức khoẻ vào ngày 7 tháng 12 năm 1995 do ông làm Giám đốc.

        Cũng đã có những trường hợp tương tự xảy ra ở Việt Nam và các nước khác. Một số ví dụ:

      · Sau khi bị chó dại cắn 17 ngày, virus dại đã thâm nhập lên não, sự sống tưởng chừng như sắp chấm dứt thì bỗng nhiên cô gái Phan Thị Bích Hằng (Ninh Bình) tỉnh lại và phục hồi sức khoẻ. Dần dần ở Bích Hằng xuất hiện khả năng đặc biệt:  có thể nhìn thấy và giao tiếp bằng lời với các vong linh. Nhờ đó mà cô gái này đã giúp mọi người tìm được hàng ngàn bộ hài cốt thất lạc trong lòng đất. Khả năng phi thường của Bích Hằng đã được thừa nhận rộng rãi.   

      · Vào khoảng năm 1923, một tai hoạ thảm khốc bởi trận cuồng phong đã quật ngã và cuốn theo cát bụi cô bé Vanga. Hậu quả là đôi mắt của cô bé 12 tuổi này bị viêm nhiễm rất nặng và bị mù hẳn sau đó 2 năm. Bù lại, cô gái Vanga dần dần đã có khả năng đặc biệt về thính giác, thị giác và đoán nhận thông tin liên quan đến số phận của hàng vạn người.       

      · Vào năm 1978, do tai nạn điện 380 vôn, một nữ công nhân 37 tuổi là Yulia Vorobiova (thành phố Donesk, Cộng hoà Ucraina) đã mất hết dấu hiệu sống nên bị đưa vào nhà xác. Sau vài ngày, tình cờ người ta đã phát hiện ra bà cử động và được chuyển ngay đến bệnh viện để điều trị. Rồi bà đã trở lại sống bình thường. Điều bất ngờ là từ đó, Yulia bắt đầu nhìn thấy các bộ phận trong thân thể con người...

        Người ta thường đặt ra câu hỏi:  Vì sao sau các biến cố kinh hoàng nào đó, con người lại có khả năng đặc biệt về thị giác, thính giác và những thứ khác? Các hiện tượng phi vật lý đó dựa trên nền tảng nào?

       Theo bà Brennan, tất cả các cơ thể năng lượng đều có hệ thống giác quan liên hệ trực tiếp với những luân xa chính được đánh số từ 1 đến 7 (xem phần 4). Cần nhắc lại rằng, mỗi “luân xa” hay cuộn xoáy là cánh cửa mà qua đó diễn ra sự trao đổi năng lượng với các chiều thực tại của vũ trụ. Toàn bộ các luân xa chính, luân xa phụ và huyệt châm cứu là những lối mở cho năng lượng đi vào và đi ra khỏi trường hào quang con người.

       Sự tương tác năng lượng (sóng) qua các luân xa chính tạo nên những hình thái ý thức ở dạng nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy, cảm thấy hay nhận biết trực tiếp tuỳ thuộc vào mức độ “khai mở” luân xa. Thuật ngữ khai mở ở đây phản ánh đúng theo nghĩa đen. Thông thường, lối mở của mỗi luân xa vào các chiều thực tại năng lượng ít nhiều đều bị tắc nghẽn nên hầu hết chúng ta chỉ có hệ thống giác quan vật lý hoạt động. Khi xảy ra biến cố tai nạn, bệnh tật hay các nguyên nhân khác, một số luân xa có thể được khai mở với những chiều thực tại nhất định (từ thấp đến cao), dẫn đến sự mở rộng các hình thái ý thức tương ứng về nghe, nhìn, cảm nhận hay nhận biết trực tiếp. Ví dụ, một cá nhân khi được khai mở luân xa 5 và luân xa 6 với chiều thực tại NF1 thì người đó có thể nhìn thấy hình bóng và nghe thấy tiếng nói của các vong linh. Lưu ý là ngoài chức năng nghe âm thanh, giác quan ở luân xa 5 có thêm chức năng vị giác và khứu giác; còn giác quan ở luân xa 1 - chức năng xúc giác thuộc các chiều thực tại năng lượng.

        Đọc thông tin về người khác

       Trong số những người nổi tiếng thế giới của thế kỷ 20 với khả năng “đọc” thông tin về người khác liên quan đến các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ và sẽ xảy ra trong tương lai, phải kể đến đầu tiên là bà Vanga. Đứng trên phương diện vật lý, hiện tượng này quả là vô cùng bí ẩn. Nhưng dưới góc độ thuyết vũ trụ đa chiều thực tại và các quá trình năng lượng diễn ra ở những bình diện vật chất không nhìn thấy, tất cả các hiện tượng bí ẩn như vậy đều có thể hiện thực.

       Để lý giải hiện tượng đọc thông tin quá khứ có quan hệ với một người không quen biết nào đó, cần phải chỉ rõ các yếu tố sau đây: vật mang thông tin, sự hình thành thông tin và cơ chế đọc thông tin. 

       Vật mang thông tin: Các nhà nghiên cứu tâm linh từ lâu đã biết rằng, thông tin về một sự vật trong quá khứ có liên quan đến người chứng kiến đã được ghi lại và lưu giữ bởi những vi cấu trúc của loại vật chất tinh tế, được gọi là năng lượng tâm thần. Đây là loại vật chất - sóng thuộc các chiều thực tại không nhìn thấy. Rất có thể, những vi cấu trúc năng lượng chứa thông tin về các sự kiện riêng lẻ (gọi tắt là “vi lượng tin riêng”) của một cá nhân dần dần sẽ được kết hợp với nhau thành những vi cấu trúc năng lượng chứa thông tin tổng thể về các sự kiện đã xảy ra (gọi tắt là “vi lượng tin chung”). Có vô số phần tử vi lượng tin chung hiện hữu trong các cơ thể không nhìn thấy của một cá nhân và dễ dàng thấm vào bất cứ vật nào mà người đó nắm giữ.

       Giả định về sự tồn tại những phần tử vi lượng tin chung có lẽ phần nào cũng giống như sự có mặt các gen di truyền trong những tế bào sinh vật. Thực tế cho thấy rằng, năng lượng tâm thần có thể tồn tại nhiều ngày, nhiều tháng hoặc nhiều năm tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể mà người chứng kiến trải qua.    

       Sự hình thành thông tin: Trước hết cần nói rõ là mỗi sự vật liên quan đến một cá nhân thường xảy ra dưới sự hiện diện ý thức của người đó - ý thức chứng kiến.

       Việc hình thành thông tin về một sự vật đang diễn ra ít nhiều tương tự như việc ghi hình các cảnh trong một bộ phim. Mọi chi tiết có liên quan đến sự vật đều được lưu giữ bởi quá trình cấu trúc hoá năng lượng tâm thần theo một cách thức mà chúng ta chưa biết. Kết quả là xuất hiện những phần tử vi lượng tin riêng và tiếp sau là những phần tử vi lượng tin chung. Nguồn lực tạo nên quá trình đó phát sinh từ ý thức chứng kiến của người tham gia. Độ rõ và độ bền của thông tin được ghi lại phần lớn phụ thuộc vào sự tập trung ý thức của người chứng kiến. Như vậy, nếu sự vật diễn ra với một cá nhân đang ngủ (vô ý thức hoàn toàn) thì không có thông tin gì được lưu giữ ở người đó.  

       Cơ chế đọc thông tin:  Mọi quá trình mà con người nhận biết thế giới sự vật đều liên quan đến hiệu ứng của các loại sóng: hình ảnh phát sinh từ sóng ánh sáng, âm thanh phát sinh từ sóng âm v.v... Có lẽ cơ chế đọc thông tin từ những vi lượng tin (riêng hoặc chung) phải dựa trên việc cộng hưởng với năng lượng - sóng tâm thần. Đó là quá trình dò - cộng hưởng các cấu trúc năng lượng đã được ghi, giống như máy đọc tín hiệu video. Nhà ngoại cảm có thể tiếp xúc với năng lượng tâm thần một cách trực tiếp từ người yêu cầu hoặc gián tiếp qua vật nhiễm như đồ dùng hay thực phẩm.

       Cần lưu ý rằng, một số người với khả năng đặc biệt hoặc khi ở trạng thái xuất thần còn có thể đọc được thông tin tiền kiếp về một sự kiện của chính mình. Trong trường hợp đó người nhận thông tin dường như đang trực tiếp trải qua hoàn cảnh cũ nhưng ở một thang bậc thời gian khác. Điều này gợi lên rằng, sự du hành của con người vào quá khứ chỉ có thể diễn ra theo nghĩa như một khán giả tập trung lý trí và cảm xúc cao độ để xem bộ phim mà trong đó bản thân nhập vai chính rất thành công.      

       Khác với thông tin về những gì đã xuất hiện, cơ chế hình thành thông tin về một sự cố chưa xảy ra ít nhiều có quan hệ với các quá trình tiền định của số phận con người. Đây là một vấn đề có vẻ bề ngoài rất bí ẩn nhưng phù hợp logic nếu xét theo góc độ thuyết vũ trụ đa chiều thực tại. Nói một cách ngắn gọn, số phận của mỗi người được quyết định bởi ba yếu tố:  tiền định, chủ quan và khách quan, trong đó tỷ lệ ảnh hưởng giữa chúng có thể bị thay đổi theo thời gian và không gian. Sự tồn tại thông tin về tương lai nằm trong bối cảnh sau đây:

      · Thông tin về tương lai xa và hệ trọng là do tiền định;

      · Thông tin về tương lai gần và chi tiết hoá là do suy nghĩ;

      · Không phải tất cả các khía cạnh của một sự cố sẽ diễn ra đúng như thông tin đã được dự đoán.

       Các dữ liệu thực tế cho thấy rằng, thông tin về tương lai thường được đưa ra ở mức độ chung chung và quan hệ với những sự cố nổi bật của cuộc đời con người. Trong khi đó, những thông tin về quá khứ lại rất cụ thể, thậm chí chính xác đến từng chi tiết vụn vặt.       

        Suy nghĩ và trực giác

       Theo cách hiểu thông thường, từ “suy nghĩ” được dùng chỉ sự hoạt động của trí óc để tìm hiểu và giải quyết vấn đề, từ một số phán đoán và ý nghĩ này đi đến những phán đoán và ý nghĩ khác có chứa tri thức mới. Như vậy, việc suy nghĩ đòi hỏi một khoảng thời gian nhất định tuỳ thuộc vấn đề được xét và khả năng trí tuệ của người giải quyết. Trong khi đó, nghĩa của từ “trực giác” nhằm chỉ sự hiểu biết trực tiếp các vấn đề mà không cần suy nghĩ. Rõ ràng, hiện tượng trực giác diễn ra một cách tức thời hoặc trong một khoảng thời gian rất ngắn.

       Đặc điểm của hai bán cầu não:  Bộ não người là một cấu trúc sinh học cực kỳ phức tạp, tinh vi và vô cùng bí ẩn. Về chức năng, nó được phân chia thành bán cầu não phải và bán cầu não trái. Sự đa dạng trong cuộc sống mỗi cá nhân nói riêng và toàn bộ xã hội nói chung được quyết định phần lớn bởi vai trò trái ngược nhau của các bán cầu não.

Thực tế chỉ ra rằng, các bán cầu não người điều khiển chéo hai cánh tay của thân thể: bán cầu não phải điều khiển tay trái, còn bán cầu não trái - tay phải. Bán cầu não phải có quan hệ với các thuộc tính: trực giác, phi logic, phi lý, nghệ thuật, lãng mạn, nữ tính, siêu hình, tưởng tượng, huyền bí, tâm linh; trong khi đó bán cầu não trái thể hiện các đặc trưng: suy nghĩ, logic, hợp lý, kỹ thuật, thực dụng, nam tính, hữu hình, cụ thể, phi huyền bí, vật chất... Tâm trí con người được thể hiện ở bình diện vật lý qua bộ não, cho nên nó dường như được cấu thành từ hai phần mâu thuẫn nhau và luôn tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau. Khi nhận biết điều đó thì mỗi người có thể trung hoà ngay chính hai phần tâm trí của mình để làm cho cuộc sống hàng ngày bớt căng thẳng nội tại và ứng xử bên ngoài dễ dàng hơn.  

Người ta cho biết rằng, giữa hai bán cầu não có một cầu nối rất mảnh. Nếu chiếc cầu nối bị hỏng do tai nạn, sai sót sinh lý hay một nguyên nhân nào khác thì một cá nhân sẽ trở nên bất thường, người đó sẽ có hai tính cách hầu như độc lập nhau - hiện tượng ảo giác hay nhân cách mâu thuẫn sẽ xảy ra. Một người như vậy có thể sống ở phần này hoặc phần khác của tâm trí mà không nhớ được những gì đã xảy ra ở phần bên kia cầu nối. Nếu cầu nối được “gia cố” vững chắc đến một mức nhất định thì sẽ xảy ra sự thể hiện hợp nhất hai phần tâm trí, trong trường hợp đó con người có thể dễ dàng đạt đến trạng thái an bình bền vững.

       Một trong những dấu hiệu nổi bật mà dựa vào đó có thể xem xét mức độ thể hiện trong thực tế của các bán cầu não người là thói quen thuận tay trái hay thuận tay phải. Tồn tại giả thuyết cho rằng vào thời nguyên thuỷ, hai bán cầu não người đã có sự hoạt động cân bằng nên một cá nhân có thể đã sử dụng hai tay của mình ngang nhau. Rõ ràng, xã hội càng phát triển thì nhu cầu hoạt động của bán cầu não trái càng tăng lên, dẫn đến sự nổi trội của những người thuận tay phải. Trung bình có mười phần trăm trẻ em được sinh ra với khả năng thuận tay trái. Tỷ lệ thực tế phụ thuộc khá nhiều vào nền tảng văn hoá và mức độ phát triển vật chất của mỗi cộng đồng dân cư. 

       Thuyết tâm linh khẳng định rằng, sự biểu hiện thuận tay trái hay thuận tay phải của một đứa bé hầu như không phụ thuộc vào phần thể xác của nó, tức là không phải do di truyền sinh học tạo ra. Thuộc tính này được quyết định chủ yếu bởi hệ thống các cơ thể năng lượng của mỗi cá nhân hay bởi di truyền tâm linh. Mặt khác, một người có bán cầu não phải phát triển không nhất thiết dẫn đến thói quen thuận tay trái. Nhưng bán cầu não phải ở một cá nhân thuận tay trái thường là rất nhạy cảm và có thể phát huy tác dụng hơn bán cầu não trái.    

       Như trên đã đề cập đến, khả năng trực giác của con người được thể hiện qua bán cầu não phải, còn khả năng suy nghĩ - qua bán cầu não trái. Người ta tin là các phản ứng trí tuệ và hành động ở con người bằng con đường trực giác là tối ưu và diễn ra một cách tức thời, còn bằng con đường suy nghĩ - cục bộ và đòi hỏi một khoảng thời gian nhất định. Do vậy, các vận động viên ở những bộ môn như đấu kiếm, bóng bàn, quần vợt, cầu lông, bóng chuyền, bóng đá... cần phải có một mức độ nhạy cảm vượt trội của bán cầu não phải. Chỉ khi đó họ mới có khả năng trực giác đủ để hành động một cách đúng đắn và mau lẹ trong mọi tình huống bất thần xảy ra.

       Khả năng trực giác của con người đã được tận dụng tối đa trong các cuộc huyết chiến tay đôi bằng kiếm (kiếm thuật). Đối với tình huống đó, mỗi sơ suất trong hành động tự vệ của các phía có thể dẫn đến mất mạng. Bởi vậy, họ phải dày công rèn luyện cách hành động tức thời mà vẫn không mắc sai lầm chết người. Các đối thủ kiếm thuật có thể không phân thắng bại nếu cả hai đều hành động hoàn toàn bằng trực giác.  

       Phương pháp hiệu quả để nâng cao khả năng trực giác hay phát triển bán cầu não phải là thiền zen. Trong tư thế ngồi hoặc nằm, mỗi cá nhân có thể thực hiện thiền theo cách đơn giản nhất là không làm gì cả với sự chứng kiến (nhận biết, quan sát) chính thân vật lý và tâm trí của mình. Nhờ quá trình tập luyện lâu dài như vậy, phẩm chất tỉnh táo có thể được mở rộng và duy trì ngay cả khi con người có những hoạt động phức tạp tuỳ ý.

       Quá trình thiền lâu dài còn có thể cho phép mỗi cá nhân nhanh chóng tự dập tắt mọi cơn nóng giận, buồn chán, lo sợ, bồn chồn bất an... Việc hành thiền với tiêu chí nâng cao phẩm chất tỉnh táo được coi là một phương sách thần diệu và đại chúng để lành mạnh hoá tâm trí, tình cảm và các hành vi của con người.

Các ý nghĩ: Ý nghĩ hay tư tưởng là người bạn gần gũi nhất của mỗi người. Tuy vậy, cho đến nay giới khoa học vẫn còn lúng túng trước nhiều câu hỏi về hiện tượng tư duy. Xuất phát từ cấu trúc đa chiều của cơ thể con người, có thể lý giải hàng loạt vấn đề khó hiểu như bản chất, nguồn gốc, thời gian tồn tại, vai trò cũng như khả năng tiềm tàng của các ý nghĩ

Như chúng ta đều biết, con người bình thường nghe và nhìn thấy các sự vật xung quanh nhờ sóng âm và sóng ánh sáng. Hơn nữa, con người cảm nhận được bản thân, gia đình, xã hội và thế giới tự nhiên là nhờ các dạng sóng và dao động với những tần số khác nhau. Dựa trên các kết quả quan sát được tích lũy nhiều năm, người ta cũng đã đi đến kết luận:  ý nghĩ được não bộ nhận biết ở dạng sóng đặc thù, bao gồm các tia năng lượng mà những người với thị giác đặc biệt có thể nhìn thấy. Nói cách khác, khi con người suy nghĩ, diễn ra quá trình bức xạ năng lượng không nhìn thấy, nó cũng là một dạng của năng lượng tâm thần.

Từ hàng ngàn năm nay, nhiều danh nhân nổi tiếng thế giới đã cho biết, một số ý tưởng quan trọng của họ dường như tự nhiên xuất hiện. Điều tương tự cũng thường xảy ra: con người có thể “chộp” được ý nghĩ nào đó mà không đòi hỏi quá trình tư duy. Phải chăng các ý nghĩ có thể tồn tại trong không gian xung quanh chúng ta? Ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu khẳng định điều đó.

Khởi đầu tạo mầm cho một ý nghĩ ở con người diễn ra không phải trong bộ não (thân vật lý), mà là tại thể trí (cơ thể năng lượng thứ ba). Mỗi ý nghĩ là một dao động đặc trưng. Quá trình dao động đó sẽ hình thành nên một thực thể năng lượng tương ứng với chất liệu lấy từ bình diện thể trí (nếu nội dung có tính trí tuệ), từ bình diện thể vía (nếu nội dung có tính cảm xúc) hoặc từ cả hai bình diện đó (nếu nội dung có tính hỗn hợp). Thực thể năng lượng của ý nghĩ cũng có biểu hiện sống ở mức thấp - tự tồn tại và tự trao đổi thông tin hạn chế. Thực thể đó được gọi là hình tư tưởng và thường có mặt trong thể vía. Từ đây, sự rung động của mỗi hình tư tưởng sẽ được lan truyền tới não mà kết quả là con người nhận biết được nội dung tương ứng của ý nghĩ. Vì vậy, các nhà nghiên cứu tâm linh coi thể vía có vai trò trung gian giữa thể trí và bộ não.     

Ở một cá nhân thường có hai loại ý nghĩ. Các ý nghĩ hoạt tính do thể trí của người đó tạo ra. Chúng là những dao động xác định, được lan truyền từ thể trí qua thể vía. Tại đây các hình tư tưởng tương ứng được hình thành để làm nhiệm vụ trung chuyển nội dung ý nghĩ vào bộ não.

Các ý nghĩ thụ tính của một cá nhân không phải do thể trí của mình tạo ra. Chúng được não tiếp nhận từ những hình tư tưởng bên ngoài có mặt trong không gian và đã xâm nhập vào thể vía của người đó.

Mỗi người luôn bị bao bọc bởi một lớp hình tư tưởng và chúng liên tục “giao tiếp” với môi trường. Nhiều người tin vào quy luật sau đây: các hình tư tưởng thu hút nhau nếu cùng loại và đẩy nhau nếu khác loại. Bởi vậy, những người cao thượng thu hút về mình các hình tư tưởng yêu thương, nhân từ và tốt đẹp, còn những kẻ xấu - thu hút các hình tư tưởng thù hận, tham lam và tội lỗi.

Điều đặc biệt đáng chú ý là các hình tư tưởng có vai trò hướng tới thúc đẩy thực hiện những gì mà con người đã suy nghĩ. Tùy thuộc vào cường lực suy nghĩ, các hình tư tưởng có thể chỉ “sống” trong chốc lát hoặc kéo dài hàng ngàn năm. Người ta cho rằng, lớp khí quyển ở gần mặt đất hiện nay chứa hàng tỉ tỉ hình tư tưởng.

       Bản chất của trực giác: Khi đi sâu tìm hiểu thuộc tính đặc trưng của các yếu tố cấu thành con người theo mô hình tâm linh (xem phần 4) sẽ thấy rằng, thân vật lý có bản năng sinh tồn, tâm trí có tiềm năng trí tuệ và tâm thức có trực giác hoàn hảo. Như vậy, ngoài bản năng của thân vật lý, con người còn có thể suy nghĩ và sử dụng trực giác để giải quyết những vấn đề gặp phải trong cuộc sống. Nhưng khác với cách suy nghĩ, một hành động trực giác diễn ra bất thần tựa như ở ngoài dòng chảy thời gian. Vì sao vậy?

       Để lý giải tính tức thời của trực giác, cần phải nhớ lại trạng thái hoà đồng của một vị Phật (xem phần 5). Đó là trạng thái mà tâm trí cá nhân nhường chỗ cho tâm trí vũ trụ vận hành, tất cả những gì tồn tại đều diễn ra một cách hợp nhất trong bối cảnh “ở đây và bây giờ” - không gian và thời gian không còn tính tương đối. Như vậy, trực giác chính là sự thể hiện tính toàn bộ của cái Một trong mối quan hệ với cá thể con người. Ẩn dụ sau đây sẽ minh hoạ thêm điều đó.

       Chúng ta biết rằng, con người là một “tiểu vũ trụ”. Giả sử hai tay của một cá nhân có tâm trí riêng với khả năng suy nghĩ, hành động và có thể “chứng ngộ”, tức là có thể hoà đồng tâm trí riêng với tâm trí của người đó. Khi chưa “chứng ngộ”, sự hoạt động có suy nghĩ của mỗi tay diễn ra một cách chậm chạp và độc lập nhau. Khi tay này đối phó với tay kia, nó cần thời gian để suy nghĩ. Nhưng nếu tâm trí riêng của hai tay hoà nhập với tâm trí cá nhân thì sự hoạt động đối phó như vậy sẽ diễn ra chính xác và tức thời...

       Với ý nghĩa là một tiểu vũ trụ, mỗi con người chứa hàng tỷ cá thể tế bào mà đến lượt chúng dường như cũng có trí tuệ riêng ở mức này hay mức khác. Nhiều nhà nghiên cứu đã đi đến ý tưởng rằng, mỗi tế bào hoạt động như một thực thể có trí tuệ độc lập trong mối quan hệ hoà đồng với trí tuệ chung của cơ thể. Nói một cách hình tượng, mỗi tế bào là “tiểu phật” thuộc một tiểu vũ trụ tương ứng. Do đó, mỗi cơ thể có khả năng hoạt động hài hoà và rất hiệu quả. 

       Rõ ràng, trực giác hoàn hảo chỉ hiện hữu ở các vị Phật vì họ đã hoà nhập với cái Một. Khả năng trực giác từng phần cũng hay xuất hiện ở những người chưa chứng ngộ khi tâm trí của họ tạm thời dừng hoạt động do thả lỏng hoàn toàn hoặc tập trung sự chú ý cao độ vào một điều gì đó. Nói đến cùng, mục đích của một tu sĩ Phật giáo là áp dụng mọi phương sách hữu hiệu để nâng cao khả năng trực giác của bản thân từ chỗ có biểu hiện gián đoạn tiến tới liên tục.

        Tình yêu là gì? 

       Tình yêu là một hình thái của sự nhận biết. Theo bà Brennan, tình yêu được cảm nhận bởi một giác quan đặc biệt thuộc luân xa tim (luân xa 4).

Cũng như với các hình thái nhận biết khác, tình yêu không thể được định nghĩa bằng lời dưới bất kỳ hình thức nào, cách duy nhất để biết tình yêu là cảm nhận nó. Nhưng tồn tại rất nhiều chỉ dẫn mà nhờ đó chúng ta có thể hình dung phần nào sự kỳ diệu của tình yêu. Dưới góc độ tâm linh, tình yêu ở một cá nhân nảy sinh khi người đó có sự hoà nhập sâu sắc với cội nguồn vũ trụ (bình diện tâm thức); trong trạng thái như vậy diễn ra sự tan chảy cái “tôi” của đối tượng. Tình yêu là một nhu cầu đối với mọi người vì chúng ta đã và đang bị chia lìa khỏi cội nguồn vũ trụ và luôn khao khát được hội nhập trở lại. Bản ngã hay cái riêng của mỗi cá nhân tạo nên rào chắn năng lượng giữa con người và toàn thể sự tồn tại (cái Một). Chính bản ngã gây ra hiệu ứng tựa như trở kháng ngăn cản năng lượng tình yêu chuyển vận từ bản thể (bình diện tâm thức) tới con người. Khi có sự hài hoà toàn bộ giữa con người và thiên nhiên thì điều bản chất sâu xa sau đây sẽ được khẳng định: tình yêu đồng nghĩa với sự sống.

       Tình yêu có thể nảy sinh ở con người bởi nhiều yếu tố khác nhau. Nhưng vì sao trong cuộc sống thường ngày, tình yêu dễ dàng xảy ra giữa nam và nữ? Và đặc biệt là đối với những người trẻ tuổi?

       Dễ thấy rằng, nam và nữ là hai nửa đối cực âm dương mà khi có quan hệ tương phản nhất định thì sẽ dẫn đến sự trung hoà cái tôi của một phía (tình yêu đơn phương) hoặc cả hai phía (tình yêu song phương); điều này dễ xảy ra hơn ở lớp trẻ vì bản ngã của họ còn ít và chưa bền vững. Với hiện tượng tình yêu, người nam và người nữ chỉ đóng vai trò xúc tác hay cánh cửa để mỗi cá nhân đi qua đó tiếp xúc trực tiếp với bình diện tâm thức.

       Có thể thấy rằng, tình yêu làm nảy sinh nỗi sợ lớn vì mỗi cá nhân không dễ dàng cho phép đánh mất chính mình. Tất cả chúng ta chỉ có thể bắt rễ vào cội nguồn nguyên thuỷ nếu cái tôi biến mất (tạm thời hoặc vĩnh viễn), và đó là cách duy nhất để tình yêu nảy sinh. Qua con đường tình yêu, con người bị thu hút về cội nguồn nguyên thuỷ vì thiếu sự tiếp dưỡng của nó, nhưng vào lúc cái tôi bắt đầu tan chảy thì lại cảm thấy hốt hoảng. Đó là thế tiến thoái lưỡng nan mà mỗi người khi tìm kiếm tình yêu sẽ phải giáp mặt, hiểu biết, chuyển hoá và cố gắng vượt qua. Như vậy, tình yêu và nỗi sợ là hai điều trái nghịch triệt tiêu lẫn nhau. Cũng cần nói thêm rằng, các cảm xúc yêu và ghét chỉ là hai cực của cùng một dạng năng lượng: năng lượng yêu có thể được chuyển đổi thành năng lượng ghét và ngược lại. Chúng là phần bù của nhau tại các bình diện của tâm trí.

       Con người có thể đạt tới tình yêu với mức độ khác nhau bằng nhiều con đường:  tình yêu khác giới, tình yêu cảnh vật thiên nhiên, tình yêu văn học nghệ thuật, tình yêu thể thao, tình yêu qua xuất thần hoặc thiền định. Tình yêu sẽ nảy sinh ở con người khi có mặt một số yếu tố nhất định mà nhờ đó bản ngã của mỗi người tan biến. Xét một vài ví dụ.

Mối tương quan âm dương giữa nam và nữ là đặc trưng cơ bản dẫn đến tình yêu khác giới. Có lẽ trong thời đại nguyên thuỷ, mọi người ít quan tâm đến tình yêu nói chung vì họ đã được thoả mãn điều đó một cách tự nhiên, giống như chúng ta hít thở không khí hàng ngày. Khi nền văn minh nhân loại càng phát triển thì bản ngã của mỗi cá nhân cũng mạnh lên và hậu quả là con người ngày càng thiếu thốn tình yêu do sự cách trở cội nguồn nguyên thuỷ. 

       Một trong những đặc điểm của tình yêu khác giới ở thời đại văn minh là thiếu sự bền vững và dài lâu. Nguyên nhân chính là do sự thay đổi thường xuyên tổ hợp yếu tố của các đối tượng mà nhờ đó tình yêu nảy sinh. Cách duy nhất để kéo dài tình yêu là mỗi người phải tự hạ thấp bản ngã của mình khi sống cạnh nhau. Nhưng trong một số hoàn cảnh, việc làm tăng bản ngã của mỗi cá nhân lại là phương sách hữu hiệu để chấm dứt mối tình ngoài ý muốn. 

       Con người có thể đạt tới tình yêu rất sâu sắc qua con đường xuất thần. Đây là dạng tình yêu không phụ thuộc vào đối tượng khác. Cơ chế của điều này được lý giải khá đơn giản dưới góc độ tâm linh. Bằng kỹ thuật xuất thần cho thấy rằng, một cá nhân sau ba lần thực hiện tách sẽ đạt đến hệ thống các cơ thể năng lượng tinh tế, được thể hiện như một điểm ánh sáng bao quát mọi phía. Khi đó ý thức người xuất thần cảm thấy tràn ngập trong biển cả năng lượng tình yêu thuần khiết. Vì sao có trạng thái đó? Điều này trở nên dễ hiểu nếu chúng ta biết rằng, phần lớn cái tôi của mỗi người được lưu giữ trong thân vật lý và hai cơ thể năng lượng đầu tiên. Sau khi ba cơ thể đó bị tách ra, sự hiện hữu ý thức của người xuất thần tập trung vào hệ thống các cơ thể năng lượng còn lại - dường như một cá nhân mới được tạo thành với phẩm chất hầu như phi bản ngã, nên rất dễ dàng tiếp xúc với cội nguồn tình yêu chính là bình diện tâm thức. 

Tình yêu ở con người cũng sẽ nảy sinh rõ rệt khi chuyển dời ý thức khỏi thân vật lý và hai cơ thể năng lượng đầu tiên bằng con đường thiền zen. Nhờ đó, mỗi người có thể điều khiển con trỏ tâm thức của mình tự do di chuyển trong bốn cơ thể đầu tiên để đạt đến cảm xúc tình yêu. Điều đáng chú ý là tình yêu từ thiền cũng không phụ thuộc vào đối tượng nào bên ngoài.

Các đạo sư cho biết rằng, một cá nhân ở trạng thái “phật” sẽ biết đến tình yêu thuần khiết và dường như tồn tại vĩnh hằng. Bất kỳ người nào cũng có tiềm năng đạt tới tình yêu cao thượng đó.

       Làm thế nào để biết ai đó đang sống trong tình yêu? Theo thuyết tâm linh, sự hiện hữu tình yêu đích thực ở một cá nhân sẽ làm cho người đó có cảm nhận bản thân như một nguồn năng lượng rạo rực đang tuôn chảy ra mọi hướng. Bởi vậy, năng lượng tình yêu phải luôn được chia sẻ cho nhiều người và cả sự vật xung quanh để tránh những hậu quả tâm thần đáng tiếc.

 

 

 

VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần cuối
http://www.kynguyentamlinh.com/NewsFolder/Thumbnails/Tran%20Van%20Dinh%2021.jpg

Trong phần cuối này sẽ đưa ra kết luận, danh sách các thuật ngữ được sử dụng và tài liệu tham khảo. Điểm cốt lõi của cuốn sách này chính là Định đề về vũ trụ, từ đó suy ra sự tồn tại của bình diện vật chất phi cấu trúc (bình diện tâm thức) với nhiều tính chất siêu việt mà rất có thể sẽ được khoa học thừa nhận nay mai...



 

KẾT LUẬN

Chúng ta đã tìm hiểu nhiều vấn đề cốt lõi của vũ trụ và sự sống. Nội dung chủ yếu của cuốn sách này không phải nhằm mục đích phổ biến những điều bí ẩn lâu đời đã biết. Nhưng qua đó có thể thấy rằng, thuyết vũ trụ đa chiều thực tại được đề xuất ở đây có thể trở thành chỗ dựa của khoa học - tôn giáo để khảo sát hàng loạt vấn đề cơ sở có liên quan đến nguồn gốc, các quá trình hình thành, tiến hoá và suy vong của vũ trụ nói chung và sự sống nói riêng. Như vậy, luận điểm đầu tiên cần được chú ý là vũ trụ bao gồm vô số chiều thực tại, trong đó chiều vật lý dày đặc nhất, còn chiều tâm thức - vô cùng tinh tế và phi cấu trúc.

Vấn đề cổ xưa mà con người đã và đang rất quan tâm là cội nguồn nguyên thuỷ của mọi sự vật. Các nhà thông thái đã nghĩ ra một đối tượng siêu phàm đóng vai trò “tạo hoá” và gán cho nó vô số khả năng siêu việt mà sớm muộn cũng gặp phải những hệ quả hết sức phi lý. Ngay ở giai đoạn đầu của thế kỷ 21 này, không chỉ các nhà tôn giáo mà cả các nhà khoa học lớn cũng không thể dứt bỏ khỏi dòng tư tưởng về khả năng hiện hữu một cái gì đó tựa như Thượng Đế, nhưng thực chất Ngài như thế nào thì chưa có ai dám khẳng định chắc chắn. Thuyết vũ trụ đa chiều thực tại cho một câu trả lời ngắn gọn và rõ ràng:  đóng vai trò “tạo hoá” chính là bình diện tâm thức - lớp vật chất phi cấu trúc với những tính chất đặc biệt khác thường, nó là ranh giới vô hình vĩnh cửu mà mọi dạng trí tuệ không bao giờ có thể vượt qua.    

Mặc dù sự hiện hữu bình diện tâm thức được suy ra từ định đề về tính đa chiều thực tại của vũ trụ, nhưng cũng có thể ngay từ đầu thừa nhận nó như một tiên đề, còn mọi thứ khác sẽ được diễn giải như các hệ quả. Cách này không tự nhiên và có phần phức tạp hơn. Như vậy, để làm cơ sở cho việc tìm hiểu vũ trụ nói chung và sự sống nói riêng cần phải thừa nhận một định đề hay một tiên đề liên quan đến cội nguồn nguyên thuỷ của vũ trụ. Đây là phương pháp luận vốn được sử dụng trong lĩnh vực vật lý. 

Vai trò “tạo hoá” của bình diện tâm thức được thể hiện ở hai khía cạnh cơ bản sau đây:  cung cấp nguồn chất liệu vô tận và tạo nên động lực toàn năng mà từ đó đã và đang diễn ra mọi quá trình sinh thành và biến hoá vạn vật. Nói theo ngôn ngữ vật lý hiện đại, bình diện tâm thức chính là chân không lượng tử nguyên thuỷ của vũ trụ. Mọi cấu trúc vật chất vi mô và vĩ mô không thể được sinh ra từ hư không như một số nhà nghiên cứu giả định, tất cả chúng đều có nguồn gốc từ một đại dương vật chất phi cấu trúc vô tận và vĩnh cửu là bình diện tâm thức. Nói cách khác, mọi thứ tồn tại đều là vật chất ở dạng có cấu trúc hoặc phi cấu trúc.

Một trong những sức mạnh đóng vai trò động lực toàn năng của vũ trụ là “hiệu ứng tâm thức” phát sinh trong mối tương tác giữa các cấu trúc vật chất và bình diện tâm thức, kết quả là mọi sự vật ở mức độ này hay mức độ khác đều có biểu hiện “nhận biết” nhất định. Trên cơ sở phát hiện đầy bất ngờ này có thể lý giải thoả đáng nhiều hiện tượng trong các quá trình hình thành và tiến hoá của vũ trụ nói chung và sự sống nói riêng. Ở đây cần lưu ý rằng, các thuộc tính của thực tại như không gian, thời gian, ý thức... chỉ là những thể hiện tương đối của “hiệu ứng tâm thức”. Rõ ràng, chúng xuất hiện đồng thời với sự sinh thành vật chất có cấu trúc, tác động lên mọi sự vật và bị ảnh hưởng bởi chúng. Tất cả những thuộc tính đó sẽ trở nên hoàn toàn khác dưới nhãn quan của một vị Phật - con người có tâm thức cá nhân đồng nhất với tâm thức vũ trụ.

Cho đến nay vẫn chưa có cách tiếp cận đúng đắn tới bản chất và nguồn gốc sự sống vì các nhà nghiên cứu vẫn coi mọi biểu hiện “nhận biết” chỉ hiện hữu ở các thực thể sống và do chính chúng tạo ra. Nhưng từ thuyết vũ trụ đa chiều thực tại thu được những khía cạnh hoàn toàn khác. Theo đó, mọi cấu trúc vật chất tinh tế đều có biểu hiện “nhận biết” ở một mức độ nhất định, kể cả ý thức. Đặc biệt hơn, khả năng “nhận biết” của bất kỳ thực thể nào chỉ là kết quả tương tác giữa nó và bình diện tâm thức. Điều này dẫn đến kết luận thực sự có ý nghĩa:  bản chất của sự sống chỉ là biểu hiện vượt trội thuộc tính “nhận biết” của các sản phẩm vật chất có cấu trúc trong mối quan hệ tương tác với bản thể của mọi sự vật là bình diện tâm thức.      

Một trong những thách thức dai dẳng nhất thu hút sự chú ý của loài người từ thời cổ xưa đến nay là câu đố về khả năng tồn tại những sinh thể không nhìn thấy. Không thể tin cậy vào một câu trả lời khẳng định nếu chưa có một nền tảng vật chất và “tinh thần” cho sự tồn tại các dạng sống vô hình. Có thể nói, thuyết vũ trụ đa chiều thực tại là chỗ dựa chắc chắn để giải đáp vấn đề hóc búa trên đây.

Xuất phát từ chỗ vũ trụ bao gồm nhiều lớp vật chất khác biệt nhau về mức mật độ và dải tần số có thể rút ra kết luận rằng, sự tồn tại của toàn bộ vật chất vũ trụ tương tự như sự tồn tại của toàn bộ không gian sóng. Bởi vậy, mỗi lớp vật chất có vai trò tựa như một lớp sóng và tạo nên một chiều thực tại về mặt “nhận biết”. Hầu hết mọi người chưa thể nhận ra các chiều thực tại vô hình khác vì mức độ “nhận biết” của họ bị giới hạn ở bình diện vật lý. Khi được khai mở các giác quan đặc biệt, con người dễ dàng chứng kiến các thực thể sống ở những chiều thực tại năng lượng.

Để kết thúc cuốn sách nhỏ này không thể không nói tới các điểm đích mà sự tiến hoá của nền văn minh nhân loại có thể đạt đến. Đại sư Osho đã đưa ra ý tưởng sau đây: nếu loài người đi theo con đường thuần tuý khoa học - công nghệ thì những thế hệ con người tựa rôbơt sẽ phát sinh; ngược lại, nếu con đường tiến bộ mang tính thuần tuý tâm linh thì sẽ xuất hiện thế hệ các vị Phật. Rất có thể. nhân loại trên Trái Đất sẽ tiến bước theo con đường trung dung.

     

THUẬT NGỮ

Băng sóng- một hoặc nhiều dải sóng với các tần số kế tiếp nhau. 

Băng thực tại- một hoặc nhiều chiều thực tại kế tiếp nhau.

Bình diện tâm thức- bình diện vật chất phi cấu trúc.

Bình diện vật chất- lớp vật chất của vũ trụ, bao gồm những “nguyên tử” mà mức mật độ (hay dải tần số) của nó khác biệt căn bản so với các lớp khác.

Bình diện vật lý- lớp vật chất hữu hình với thành tố nền tảng là các nguyên tử vật lý.

Chân không lượng tử- không gian chứa đầy các hạt vật chất, xuất hiện và biến mất theo những chu kỳ cực ngắn.

Chân không lượng tử nguyên thuỷ- tên gọi khác của bình diện tâm thức.

Chiều thực tại- một dạng bình diện vật chất.

Chiều thực tại năng lượng- dạng bình diện vật chất ở thể vô hình đối với các giác quan vật lý của con người.

Chiều thực tại phi vật lý- như chiều thực tại năng lượng.

Chiều thực tại vật lý- như bình diện vật lý.

Chứng ngộ tâm linh- như chứng ngộ vô ngã.

Chứng ngộ vô ngã (thành Phật) - trạng thái nội tâm của con người khi tràn đầy nhận biết và tâm trí hoàn toàn tĩnh lặng (theo Phật Thích Ca, đó là “sự chấm dứt đau khổ”, còn theo bậc thầy tâm linh Eckhart Tolle, đó là “thu được nhận biết về hiện hữu và trú ngụ trong cảm giác sáng tỏ”). 

Cơ học lượng tử- lý thuyết mô tả vật chất và bức xạ ở thang bậc hạ nguyên tử, theo đó các hạt hạ nguyên tử có thuộc tính vừa là sóng vừa là hạt và chúng chỉ có thể được mô tả bằng phương tiện xác suất.

Cơ thể năng lượng- phần cơ thể con người được cấu tạo từ vật chất của một bình diện năng lượng xác định.

Cái Một- vũ trụ tổng thể, bao gồm mọi thứ tồn tại.

Con lắc Foucault- đây là con lắc đặc biệt do nhà vật lý Foucault (người Pháp) thiết lập vào năm 1851, nó cho thấy tất cả vật chất có cấu trúc của vũ trụ được liên kết với nhau thành một chỉnh thể.

Con trỏ tâm thức- sự định hướng tự ý thức của một cá nhân tại thân vật lý hay các cơ thể năng lượng của mình.

Đại ngã- cái “ta” của vũ trụ tổng thể.

Đạo- khái niệm bí ẩn có mặt trong tác phẩm Đạo Đức Kinh của Lão Tử, nhằm trỏ tới một đối tượng siêu việt đóng vai trò nguồn gốc và bản thể của mọi sự vật trong vũ trụ.

Định đề về vũ trụ- được đề xuất trong cuốn sách này, nó thừa nhận vũ trụ có vô số bình diện vật chất.

Định lý bất toàn- còn được gọi là “định lý về tính không đầy đủ”, do nhà toán học Kurt Godel (người Áo) đưa ra năm 1931, nó cho biết rằng toàn bộ hệ thống số học chứa những mệnh đề toán học không xác định, tức là không thể chứng minh và cũng không thể bác bỏ chúng nếu chỉ dựa trên các tiên đề có mặt trong hệ thống đó.

Định lý Bell- do nhà toán học J. S. Bell đưa ra năm 1964, nó cho biết rằng các hạt hạ nguyên tử liên kết với nhau một cách phi thời gian và phi không gian.

Giác quan đặc biệt- cho phép nhận biết được các sự vật của một hoặc nhiều chiều thực tại năng lượng.

Giác quan phi vật lý- như giác quan đặc biệt.

Giác quan vật lý- cho phép nhận biết được các sự vật của bình diện vật lý.

Hiệu ứng tâm thức- được đề cập đến trong cuốn sách này, nó nói lên rằng kết quả tương tác giữa những cấu trúc vật chất với bình diện tâm thức được thể hiện qua các hình thái “nhận biết” từ dạng đơn giản nhất như phản ứng, cảm ứng... cho đến dạng tinh tế như ý thức, tình yêu, sáng tạo...    

Khoa học tâm linh- lĩnh vực nghiên cứu về lý thuyết và thực nghiệm, có quan hệ đến nền tảng của sự tồn tại nói chung, kể cả các bình diện vật chất phi vật lý.

Không gian- thuộc tính của một cấu trúc vật chất đặc trưng về quảng tính như dài ngắn, rộng hẹp, cao thấp v.v...

Linh hồn- một trong ba thành phần tạo nên một cá nhân cụ thể (hai thành phần khác là thân vật lý và tâm trí), nó thực chất là phần vật chất phi cấu trúc bị giới hạn bởi hệ thống thân vật lý và các cơ thể năng lượng của người đó.

Luật bất toàn- được đề cập đến trong cuốn sách này, nó cho biết rằng chức năng cơ bản của một đối tượng độc lập nào đó không thể được thực hiện với chính nó hoặc một phần của nó (ví dụ, dao sắc không gọt được chuôi).

Mật độ (vật chất) - Số lượng các “nguyên tử” chứa trong một đơn vị thể tích thuộc một chiều thực tại.

Mô hình tâm linh về con người- được đề cập đến trong cuốn sách này, nó cho biết rằng mỗi người có ba yếu tố cấu thành là thân vật lý, tâm trí và tâm thức (linh hồn). 

Nguyên tử- các cấu trúc vật chất đóng vai trò thành tố (nền tảng) của một bình diện vật chất xác định.

Nghịch lý EPR- do ba nhà khoa học là Einstein, Podolsky và Rosen đưa ra năm 1930, nó cho thấy rằng các hạt hạ nguyên tử có thể có liên hệ mật thiết với nhau thông qua một tương tác bí ẩn phi không gian và phi thời gian. 

Niết Bàn- khái niệm bí ẩn có mặt trong giáo lý đạo Phật, nhằm trỏ tới một chiều thực tại siêu việt mà mỗi cá nhân có thể tự mình trải nghiệm nhất thời hoặc lâu dài, nhưng không thể tìm hiểu và mô tả trực tiếp bằng tâm trí.

Phật- cá nhân đã chứng ngộ vô ngã, người có ý thức tràn đầy trong mọi thời điểm của đời sống, kể cả khi ngủ.

Sinh thể năng lượng- được sinh thành từ vật chất của các chiều thực tại năng lượng, nó là vô hình đối với các giác quan vật lý của con người.

Sinh thể sóng- một dạng sinh thể năng lượng, vô hình đối với các giác quan đặc biệt của con người.

Sóng tâm thức- thể hiện của vật chất phi cấu trúc.

Tâm thức- vật chất phi cấu trúc (nghĩa ở đây hoàn toàn khác với nghĩa thường được quan niệm, coi “tâm thức” là tình cảm và nhận thức của con người).

Tâm trí- bao gồm các tiến trình trí tuệ và cảm xúc của con người.

Thân vật lý- phần cơ thể con người được cấu tạo từ vật chất của bình diện vật lý (còn được gọi là “thể xác”).

Thiền zen- còn được gọi là “thiền tâm linh”, thực hành chứng kiến (phi nỗ lực) một phần hoặc toàn bộ bản thân người thiền.

Thời gian- thuộc tính của các quá trình vật chất diễn ra theo một trật tự nhất định.

Thuyết vũ trụ đa chiều thực tại- được đưa ra trong cuốn sách này, nó thừa nhận rằng vũ trụ có vô số chiều thực tại (bình diện vật chất), trong đó chiều vật lý dày đặc nhất, còn chiều tâm thức chứa vật chất phi cấu trúc với nhiều tính chất siêu việt.

Thượng Đế- khái niệm bí ẩn có mặt trong các kinh sách của nhiều tôn giáo khác nhau, nhằm trỏ tới một đối tượng siêu phàm đóng vai trò kiến tạo và duy trì vũ trụ tổng thể, trong đó có sự sống.

Tiểu ngã- cái “tôi” của một cá nhân.

Trực giác- khả năng của con người nhận thức các sự vật một cách trực tiếp, không cần suy luận bằng lý trí.

Vật chất có cấu trúc- dạng vật chất chứa các phần tử có thể bị phân rã.

Vật chất phi cấu trúc- dạng vật chất chứa tất cả các phần tử không thể bị phân rã.

Vi lượng tin chung- vi cấu trúc năng lượng chứa thông tin tổng thể về các sự kiện đã xảy ra.

Vi lượng tin riêng- vi cấu trúc năng lượng chứa thông tin riêng lẻ về các sự kiện đã xảy ra.

Vô ngã- cái “tôi” biến mất. 

Vụ nổ lớn- một lý thuyết của vũ trụ học, theo đó vũ trụ nguyên thuỷ cực kỳ nóng, đặc và đã bắt đầu sự tồn tại của nó bởi một vụ nổ lớn, xảy ra vào khoảng 13,7 tỷ năm trước đây tại một điểm của không gian.

Xuất thần- khả năng của con người, do bẩm sinh hoặc tập luyện, có thể tự tách rời hệ thống các cơ thể năng lượng của mình khỏi thân vật lý hoặc cơ thể năng lượng kề cận.  

 

 

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

       1. Barbara Ann Brennan Bàn tay ánh sáng. Lê Trọng Bổng dịch. NXB Văn hoá thông tin, 1997, 332 tr.

       2.  Nguyễn Hoàng Phương Tích hợp đa văn hoá Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai. NXB Giáo dục, Hà Nội, 1996, 1184 tr.

       3. William Buhlman Phiêu lưu ngoài cơ thể. Ngô Trung Việt dịch. Tài liệu nội bộ, Hà Nội, 1996, 282 tr.

       4.  S. Hawking Lược sử thời gian - từ Vụ nổ lớn đến các lỗ đen. Cao Chi và Phạm Văn Thiều dịch. NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 1995, 280 tr.

       5.  S. Hawking  Vũ trụ trong một hạt dẻ. Nguyễn Văn Cừ và Phạm Lê Mạnh Đức dịch. NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2003, 208 tr.

       6.  G. Bogdanov, I. Bogdanov...  Bên ngoài khoa học. Lê Diên và những người khác dịch. NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2004, 214 tr.

       7. Trịnh Xuân Thuận  Giai điệu bí ẩn và con người đã tạo ra vũ trụ. Phạm Văn Thiều dịch. NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 2000, 384 tr. 

       8. Matthieu Ricard, Trịnh Xuân Thuận Cái vô hạn trong lòng bàn tay. Phạm Văn Thiều và Ngô Vũ dịch. NXB Trẻ - báo Tia Sáng. Hà Nội, 2005, 478 tr.

9. Những nhà tiên tri thế giới. Lê Nguyễn và Lê Xuân Sơn dịch. NXB Văn hoá thông tin, 2000, 320 tr.

       10. Nguyễn Tường Bách  Lưới trời ai dệt? NXB Trẻ, 2004, 375 tr.

11. E-rơ-nơ Mun-da-sep Chúng ta thoát thai từ đâu? Hoàng Giang dịch. NXB Thế giới, Hà Nội, 2002, 531 tr.

12. Dominique Folscheid  Các triết thuyết lớn. Huyền Giang dịch, NXB Thế giới, Hà Nội, 2002, 160 tr.

13. Nguyễn Ngọc Giao  Vũ trụ được hình thành như thế nào? NXB Giáo dục (tái bản lần thứ sáu), 2003, 87 tr.

14. Hồ Huỳnh Thuỳ Dương  Sinh học phân tử. NXB Giáo dục (tái bản lần thứ hai), 2003, 303 tr.

15. Tạp chí Thế Giới Mới.

16. Tạp chí Thế Giới Trong Ta.

       17. Đại đức Narada Thera  Đức Phật và Phật pháp. Phạm Kim Khánh dịch. Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, 1991, 622 tr.

       18. Hoà thượng Thích Thanh Tứ Thiền sư Việt Nam. NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1999, 606 tr.

       19. Hoà thượng Thích Thanh Tứ  Thiền đốn ngộ. NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1999, 240 tr.

       20. Thế giới Phật giáoMười đại đệ tử Phật. NXB Văn hoá thông tin, 2002, 256 tr.

21. Maharaj Charan Singh  Con đường. Radha Soami Satsang Beas, Punjab, India.

22. Phúc âm của Chúa cứu thế Giê-su - bốn sách Phúc âm của Thánh kinh Tân ước. American Bible Society, New York, 1993, 225 tr.

23. Lão Tử  Đạo Đức Kinh. Thu Giang Nguyễn Duy Cần dịch và bình chú. NXB Văn học, Hà Nội, 2001, 360 tr.

24. Yoga Tây Tạng. Hải Ân biên soạn. Nhà NXB Thanh Niên, 1999, 107 tr.

25. Jâja Yoga: Triết học và khí công Ấn Độ. Hải Ân dịch. Nhà NXB Mũi Cà Mau, 1997, 108 tr.

        26.  Nguyễn Thị Hai  Thể phách con người. 1958.

        27.  Nguyễn Thị Hai  Thể vía con người. 1958.

        28. Osho  Ngón tay chỉ trăng. Tài liệu nội bộ, 1999, 542 tr.

          29. Osho  Kinh Kim Cương. Tài liệu nội bộ, 1998, 307 tr.

30. Osho  Thiền zen - Tự do đầu tiên và cuối cùng. Tài liệu nội bộ, 1997, 432 tr.

31. Osho Đạo: Ba kho báu - Tập 1. Tài liệu nội bộ, 2001, 288 tr.

32. Eckhart Tolle  Quyền năng của bây giờ - Hướng dẫn tới chứng ngộ tâm linh. Tài liệu nội bộ, 2004, 274 tr.

 

 

 

 

 

MỤC LỤC

       MỞ ĐẦU  . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . . .

Phần 1THUYẾT VŨ TRỤ ĐA CHIỀU THỰC TẠI    

     Nhận xét chung  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

            Các khái niệm và định nghĩa . . . . . . . . . . . . . . .

     Định đề về vũ trụ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 

     Các hệ quả  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

     Các ý tưởng về vũ trụ đa chiều  . . . . . . . . . . . . .

     Khái niệm về khoa học tâm linh . . . . . . . . . . . .

Phần 2SỰ HÌNH THÀNH BÌNH DIỆN VẬT LÝ . . .

     Các quan niệm về vũ trụ  . . . . . . . . . . . . . . . . . .  

     Kịch bản Vụ nổ lớn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

     Vũ trụ trước thời điểm 10-43 giây . . . . . . . . . . . 

     Động lực toàn năng của vũ trụ   . . . . . . . . . . . .

     Các quá trình co - giãn cục bộ? . . . . . . . . . . . . .

Phần 3NGUỒN GỐC SỰ SỐNG . . . . . . . . . . . .

     Sự sống là một bí ẩn vĩ đại  . . . . . . . . . . . . . . . 

     Sự sống phát sinh từ đâu? . . . . . . . . . . . . . . . . .

     Bản chất của sự sống  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

     Quá trình hình thành sự sống . . . . . . . . . . . . . .

Phần 4BẢN THỂ CON NGƯỜI . . . . . . . . . . . .

     Nhận xét chung  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

     Cấu trúc năng lượng của con người  . . . . . . . .

     Mô hình tâm linh về con người  . . . . . . . . . . . .

     Vũ trụ là một tổng thể sống?  . . . . . . . . . . . . . .

Phần 5CHỨNG NGỘ VÔ NGÃ . . . . . . . . . . . . .

     Vị trí tiến hoá của con người  . . . . . . . . . . . . .

     Cơ chế chứng ngộ  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

     Những con đường chứng ngộ  . . . . . . . . . . . . .

Phần 6MINH CHỨNG VỀ BÌNH DIỆN TÂM THỨC

     Mối liên kết siêu sáng  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

     Con lắc Foucault  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

     Nghịch lý EPR . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

     Tính bất toàn của một hệ thống . . . . . . . . . . . . 

     Niết Bàn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

     Thượng Đế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

     Đạo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

     Bí ẩn tối thượng  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Phần 7CÁC SINH THỂ NĂNG LƯỢNG  . . . . .

    Sự sống là gì?  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

    Tồn tại sự sống sau cái chết? . . . . . . . . . . . . .

     Các sinh thể có hình bóng  . . . . . . . . . . . . . . .

    Các sinh thể sóng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

     Giới hạn của trí tuệ  .  . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Phần 8CÁC BÍ ẨN TÔN GIÁO . .. . . . . . . . . .

     Nền tảng của các tôn giáo  . . . . . . . . . . . . . . .

     Các mức chứng ngộ vô ngã  . . . . . . . . . . . . . 

     Những câu nói bí ẩn . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Phần 9CÁC THUỘC TÍNH CỦA THỰC TẠI     

Các quan niệm về không gian, thời gian  . . .

Mối liên hệ giữa không gian, thời gian và ý thức

Tính tuyệt đối của thực tại vật lý  . . . . . . . . . . .

Khái niệm về “băng thực tại” . . . . . . . . . . . . . .

Phần 10CÁC BÍ ẨN PHI VẬT LÝ . . . . . . . . . . . 

     Các giác quan đặc biệt . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  

     Đọc thông tin về người khác  . . . . . . . . . . . . . .

     Suy nghĩ và trực giác  . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

     Tình yêu là gì?   . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

      KẾT LUẬN  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

      THUẬT NGỮ  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . .

 

 

 

Những điểm chính của nội dung cuốn sách

VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC TÂM LINH

Nguyễn Hiếu

Chúng tôi cho rằng, cuốn sách đã được viết ra trên cơ sở tham khảo rất nhiều tài liệu, đặc biệt là các tư liệu tôn giáo từ các vị Phật mới xuất hiện trong những thập niên gần đây. Phần cốt lõi của cuốn sách là “thuyết vũ trụ đa chiều thực tại”. Nội dung của cuốn sách nhằm thể hiện những điểm chính sau đây:

       1)  Vũ trụ tổng thể gồm vô số bình diện hay lớp vật chất có cấu trúc, chúng thâm nhập lẫn nhau trong không gian như sóng, trong đó bình diện vật lý “đậm đặc” hơn cả.

2)  Cội nguồn nguyên thuỷ của vũ trụ là bình diện vật chất phi cấu trúc (bìnhdiện tâm thức), nó có nhiều tính chất siêu việt mà các tài liệu tôn giáo đã từng nói đến.

3)  Sự hình thành các cấu trúc vật chất kéo theo hiệu ứng tâm thức, được thể hiện qua “nhận biết” (như phản ứng, cảm ứng, ý thức, tình yêu, sáng tạo v.v...) do tác động của sóng-vật chất phi cấu trúc (“sóng tâm thức”) lên cấu trúcvật chất. Nói cách khác, mọi cấu trúc vật chất, từ vĩ mô như Trái Đất hay các hành tinh khác và vi mô như lượng tử ánh sáng hay các vi hạt, đều có khả năng “nhận biết” ở một mức nhất định.

4)  Sự sống tại các bình diện vật chất năng lượng (phi vật lý, vô hình) có khảnăng xuất hiện theo nhiều mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào cấu trúc vật chất được tạo ra.

5)  Vũ trụ nói chung và sự sống nói riêng đã phát sinh và đang tiến hoá trên nền tảng của bình diện tâm thức và mối tương tác của nó với các cấu trúc vật chất;không cần thiết sự tồn tại của một đấng siêu phàm nào đó như các tôn giáo và nhiều người đã giả định.

6)  Con người và các loài vật khác trên Trái Đất là những sinh thể đa chiều thực tại, tức là cơ thể được cấu tạo từ nguyên liệu thuộc một số bình diện vật chất xác định. Vì “băng thực tại” của con người chỉ sáng tỏ ở bìnhdiện vật lý, nên hầu hết chúng ta mù và điếc đối với những chiều thực tại năng lượng.

 

      7)  Đích tiến hoá cuối cùng của con người là trở thành vị Phật. Đó là một người có thể đạt tới tâm thức cá nhân đồng nhất với tâm thức vũ trụ, có trạng thái ý thức hoàn toàn sáng tỏ tại bất kỳ thời điểmnào (kể cả khi ngủ), luôn tràn đầy phúc lạc và tình thương yêu vô điều kiện.

Trực tuyến

Trang web hiện có:
8 khách & 0 thành viên trực tuyến

Mới nhất